Bảo Ninh

Truyện ngắn | Stories

Hà Nội lúc 0:00 giờ

Năm rồi trong cơ quan nhiều người xây nhà riêng và đều dốc lực hoàn thành để kịp nhập trạch trước Tết Nguyên đán. Chuyển vào nhà mới tầng cao phòng rộng lại có tường bao cách biệt với đời y như thể chuyển sang một thời đại khác. Thế nhưng, như tôi, tuổi đã chừng này còn thời nào nữa ngoài thời đã qua.

Mà run rủi làm sao nhà mới lại về cùng phố với ngôi nhà thơ ấu. Xưa nhà số bốn, giờ trăm lẻ hai, hai đầu phố. Tết đầu tiên nhà mới thời tiết lại cũng hệt tiết trời cái Tết cuối cùng ngôi nhà xưa. Cũng là một tháng chạp chỉ hăm chín ngày, và cũng gần suốt cả tháng nắng nôi tựa như mùa hạ, đào Nhật Tân nở tung hết cả, rồi cũng gió bấc lùa về đến trước ngày cúng ông Táo. Trời rét đậm, một đợt giá rét dài đến thấu Rằm. Theo trí nhớ nhiều người thì hình như trong vài chục năm qua chẳng có một đầu xuân năm mới nào rét ngang Giáp Thìn Tết ấy, cho tới Mậu Dần này. Có lẽ vì xích gần quá khứ nên nhà thì mới mà người như cũ hẳn. Mất ngủ, uống nhiều. Giờ giấc rời rạc. Tâm trí thường lảng đi những đâu đâu. Ban ngày đã ít có mặt ở nhà, canh khuya còn đẩy cửa ra phố.

Phố dài, nhiều cây, những ngày trước từ cuối phố vẫn có thể nghe thấy tiếng leng keng và thấy được thoáng bóng tầu điện chạy ngang qua ngã tư đầu phố. Bây giờ, đứng trên tum nhà ba tầng mà chịu không thể nhìn với qua được tường nhà bên cạnh. Ngày trước, đoạn cuối phố này chẳng nhà cửa gì, đất rộng phó mặc cho cỏ dại và ma trơi. Nay đất chẳng còn, chỉ những nhà lầu là nhà lầu, bề bề bê-tông, tôn, thép, nhôm, kính. Cũng là tất nhiên thôi, đã ba mươi tư năm rồi còn gì, ngày ấy với bây giờ. Mà nói gì tới chừng bấy thời gian. Mới đây, để dựng một phim nhiều tập về Hà Nội buổi đầu Đổi Mới, nhà đạo diễn, một nghệ sĩ ưu tú, đã phải kéo bầu đoàn sang thị xã Bắc Ninh mượn cảnh, nhưng mà rồi Hà Nội trong phim tuy đã được hóa trang khéo vẫn chẳng na ná nổi Hà Nội, dù là Hà Nội của những năm chỉ vừa mới đó. Huống hồ Hà Nội Tết Giáp Thìn. Cái mùa xuân năm nao xa lắc xa lơ thời trước chiến tranh ấy đã ra ngoài mọi trí nhớ, và không một giấc chiêm bao nào còn có thể với tay về.

Nhưng mà dù vậy, Hà Nội mùa xuân đó vẫn đâu đây trong trời đất và vẫn thường nhập hồn về với mùa xuân của thành phố hôm nay vào đúng những nửa đêm, lúc không ngờ. Người bộ hành đang dạo bước dọc canh khuya, lẳng lặng rẽ khỏi đời thực, âm thầm đi lẫn vào sự vật của những ngày xưa kia. Chỉ là từ bên này đường sang bên kia đường thôi mà đã đi lùi về tận những năm nảo năm nào.

Năm ấy, bao nhiêu sương giá và rét mướt mùa đông như thu cả vào hạ tuần tháng chạp ta. Năm cùng tháng tận trời rét căm căm. Ở các phố xa trung tâm mới chừng sau tám giờ tối đã chẳng còn mấy ai ra khỏi nhà. Dưới ánh đèn đường chỉ những gió lùa và lá rụng. Loáng thoáng những chiếc xe đạp ruổi thật mau. Lác đác những người đi bộ đang rảo bước. Xe điện các chuyến khuya hầu như chạy suông, toa trên toa dưới hành khách chẳng tày một nhúm.

Nhưng giữa lạnh lẽo của đêm đông vắng lặng đã lặng nghe xôn xao mùa xuân đang về trong thành phố. Cành đào trên tay một người qua đường. Chậu quất chở sau một chiếc xe đạp. Lộc nõn nhú trên tán bàng trụi lá. Ở ngoài đêm, phố xá thưa thớt bóng người mà bên trong những ngôi nhà dọc phố suốt đêm rậm rịch tiếng chân bước, tiếng người nói, trên gác dưới tầng gia đình nào cũng đang rộn rịp bếp núc và chộn rộn kê dọn lại phòng, soạn sửa câu đối, lọ hoa, chăm chút bàn thờ. Tháng chạp thiếu đi một ngày, Tết đến kíp hơn, rộn ràng, và cập rập. Mới khuya ngày 28 thôi mà đêm mai đã giao thừa rồi.

Họa sĩ Năm Tín, người Cà Mau, từ cuộc họp đồng hương ở câu lạc bộ Thống Nhất đáp chuyến xe điện cuối cùng trở về nhà. Ông xuống ở ngã tư đầu phố. Đèn đường vẫn những ngọn vàng ung và mờ lụi như mọi đêm, nhưng đêm nay nhà nhà không ngủ, ánh sáng các ô cửa sổ soi rộng xuống vỉa hè và chiếu tỏa ra lòng đường. Tại chỗ máy nước công cộng trước cổng nhà số ba vẫn còn một nhóm các bà các cô tất bật vo gạo, rửa lá. Vòi nước xối xả, xô chậu xủng xoảng.

ở vỉa hè bên kia, giữa khoảng sân đất rộng trước mặt tiền hai tầng nhà số bốn, nồi bánh chưng, nguyên cả một cái thùng phuy, đang sôi sình sịch, ngun ngút bốc hơi trên bếp lửa chụm bằng những cây củi to gộc. Lửa không cao ngọn nhưng than trong bếp đỏ rừng rực, trải một vòng sáng rộng dập dờn mầu hồng thẫm lên mặt sân. Hơi nóng và khói khiến lũ trẻ thức canh nồi bánh phải dịch manh chiếu ra bên rìa quầng sáng, chụm đầu lại đánh tú lơ khơ. Chỉ vài đứa vẫn ngồi cạnh bếp lửa. Chúng vẽ thành những bóng đen chập chờn trên tường nhà. Một cây củi được đun sâu vào thêm, lửa trong bếp phừng phừng bốc cao, gương mặt của những mái đầu tóc xoăn và tóc húi cua được ánh lửa soi rạng lên.

Ngà ngà hơi men, tay xách một cái cặp da căng phồng, ông Năm chuệnh choạng sang đường, bước vào sân nhà số bốn. Nhác thấy bóng ông, hai chú cẩu đang nằm gác mõm lên đùi một gã trai lực lưỡng ngồi khoanh chân canh bếp lửa, bật chồm dậy sủa vang.

- Câm miệng, Giôn! Ken! - Gã trai quát - Không nhận ra chú Năm à!

- Bữa nay hai ngày tổng cẩu nhà mầy sao mà hiếu chiến quá vậy tụi bây?

Họa sĩ ngồi xuống bên gã trai và đưa hai bàn tay gầy guộc lạnh cóng hơ sát vào bếp lửa.

Tiếng bọn trẻ con lanh lảnh nhao nhao lên chào chú Năm. Chúng bỏ bộ bài đấy, xúm cả lại ngồi túm bên ông. Mở chiếc cặp da, ông Năm lấy ra trước tiên một chai Lúa Mới.

- Thứ dữ nầy của qua. - Ông nói. - Còn tụi bây…

Ông đưa ra một phong pháo mậu dịch giấy gói mầu hồng vẽ hình cô tiên cưỡi mây, rồi một bọc to đùng giấy trang kim có hình ông già Nô-en đội mũ chóp đỏ.

- Năm nay Tết cần kiệm, hội đồng hương xứ Mũi quê qua chẳng được bộn quà như mấy năm, - Ông Năm nói, như phân trần với lũ trẻ. - Nhưng mà có thứ nầy quý lắm đó nghe. Kẹo Liên Xô, ngon nhứt đó, sắp nhỏ.

- Chú chiều chúng nó quá đi mất, chú Năm ơi! - Gã trai kêu lên. - Năm nào cũng vậy. Rồi chú lấy gì ăn Tết cơ chứ? - Và gã đập đùi quát - Này, bọn chúng mày không có được thế đâu nhá!

- Thôi mầy, Trung! - Ông Năm vỗ vai gã. - Bữa nay sao cả mầy cũng hiếu chiến quá vậy. Coi kia, kịch chiến với võ sĩ nào mà mặt mày bầm dập vậy con?

- Với Pét “xồm” chú ạ! - Một thằng nhóc mách.

- Tại vì chị Giang đấy! - Một đứa khác.

- Im đi, thằng lỏi! - Gã trai nạt, mắt trợn lên. Nhưng chỉ trợn được con mắt trái. Mắt phải của gã tím quầng sưng húp. Gò má sây sát. Môi vều lên.

- Vậy chớ nhỏ Giang đâu? - Ông Năm hỏi, đưa mắt nhìn quanh.

- Hình như đang ngồi khóc trên kia hay sao ấy chú ạ! - Một lỏi con tóc húi cua nói to, trỏ lên ban công tầng hai.

- Sao vậy?

Chị ấy dỗi anh Trung!

- Thiệt tình! Thằng Bình, mầy lên biểu chị mầy xuống qua biểu. Vui năm mới mà mất đoàn kết vậy, coi sao đặng, mấy đứa.

Mặc dù bản tính hơi gàn gàn, đời sống độc thân bê trễ, lại cực độ âm thầm, chỉ có thể nói năng khi đã ngà ngà, và nhà thì ở mãi chung cư gần cuối phố, tít trên tầng thượng, song họa sĩ Năm Tín lại như là bạn vong niên của sắp nhỏ ngôi nhà số bốn nơi đầu phố này. Mấy năm trước, một sớm tinh mơ mùa đông sương mù rất lạnh, bọn trẻ nhà này vấp phải ông Năm, người nồng mùi rượu, nằm lịm cóng từ bao giờ trước sân. Chúng hè nhau khiêng ông vào nhà, đổ nước gừng cho ông, đánh gió, xoa dầu, ủ ấm cho ông. Khi xe cấp cứu tới thì ông đã hồi. Từ bấy thành chỗ thân tình, bọn trẻ thường kéo nhau tới thăm họa sĩ. Chúng giúp ông nhiều việc, gánh nước từ máy công cộng lên tầng cho ông, dọn dẹp căn phòng cực kỳ luộm thuộm của ông và mua hộ ông các thứ tiêu chuẩn tem phiếu. Họa sĩ cũng hết sức cưng chiều lũ nhóc, bầy trẻ thơ của cái phố nghèo mà mười năm qua, kể từ sau ngày tập kết, đối với ông đã ngày một thêm nặng tình. Ông để chúng tha hồ lục tranh của ông, những bức bột mầu, những bức thuốc nước và những ký họa. Rất kiệm lời, hầu như chẳng bao giờ kể chuyện quê nhà, nhưng lần lượt qua từng bức họa, ông cho bọn trẻ Hà Nội thấy được phong cảnh của cõi xa vời vợi đợi ông miền đất Mũi, thấy được chân dung những bà má, những chị phụ nữ và trẻ em của Nam Bộ kháng chiến, và thấy được gương mặt các chiến sĩ cùng trung đội với ông hồi Chín Năm ở tiểu đoàn Ba Lẻ Bảy.

Và Tết năm nào cũng như thế này, giữa canh khuya, sau cuộc họp đồng hương cuối năm, ông Nam không về nhà mà rẽ vào chỗ đám trẻ nhà số bốn đang quây quần canh nồi bánh chưng. Ông chia quà cho lũ nhỏ và nếu không quá say thì ông sẽ thức cùng với những đứa lớn tới tận khi đã có thể vớt bánh ra khỏi nồi.

Năm nào, năm hộ nhà số bốn cũng cùng nhau lo liệu cái Tết. Nếp chung tốt lành này có từ thời còn mồ ma ông Tá tài xế. Đông con, kinh tế chật vật nhất nhà số bốn vậy mà hàng năm chính ông Tá là người đã giúp cho cả ngôi nhà này ăn Tết tươm nhất phố. Là tài xế của đoàn vận tải Bộ Lâm nghiệp, chuyên trị chạy tuyến Tây Bắc, ông Tá quanh năm vắng nhà, nhưng cứ đến giáp Tết dân phố lại thấy chiếc mô-nô-tô-va của ông, bê bết bùn đất đường trường rù rù lăn bánh vào sân trước nhà số bốn, inh ỏi bấm còi. Bọn nhóc trong nhà đang mỏi mắt trông chờ hoan hỉ ùa ra, náo nức dỡ củi, dỡ lồng gà, dỡ những bao tải chất nặng hàng tươi, hàng khô từ thùng xe xuống. Chẳng phải vất vả lo toan gì mấy mà vợ con ông và các hộ láng giềng cũng có đủ mọi thứ cho ba ngày Tết. Nhiều năm như vậy cho đến mùa lũ năm 61, xe ông Tá gặp nạn trên đèo Pha Đin.

Tết năm ấy,cả nhà số bốn góp sức đỡ đần vợ con ông Tá và cũng là hợp lại đỡ cho nhau. Từ đó thành nếp, Tết nhất lo chung năm gia đình. Ba gia đình dưới nhà, hai gia đình trên gác, hoàn cảnh nhà nào cũng gieo neo. Như vợ con ông Tá, hay gia đình bà Thái ở phòng mặt tiền tầng một, trước cũng khá, sau vì ông Thái trở chứng, ruồng rẫy vợ con, đang đêm vơ sạch món tiền hai vợ chồng đã nhiều năm dành dụm, theo chân một chị hàng xén lặn tút vào tận trong Vinh, nên cảnh nhà sa sút hẳn. Anh con trai đầu đang học trung cấp hàng hải mà phải bỏ. Còn ông Cư, cũng phòng ở tầng một, vốn chân thủ quỹ, sở điện, lương tùng tiệm đủ nuôi vợ con thế mà tẩm ngẩm tầm ngầm phạm tội thụt két, liền mấy niên rồi đón xuân trong tù. Còn như hai chị em Giang và Bình sống với ông nội ở căn phòng bên trên nhà bà Thái thì lại phải nông nỗi mồ côi bố mẹ từ nhỏ, buồn vui mỗi ngày chứ chẳng riêng ngày Tết tùy thuộc tình trạng sức khỏe của ông cụ, tuổi đã thất thập, già cả đau yếu. Ngay như gia đình giáo sư Xứng mà Tết nhất cũng lấn bấn. Ông lương cao, tiêu chuẩn chuyên viên, gia đình ít người mà được phân hai phòng rộng thênh trên tầng hai, mức sống trội hơn các gia đình khác, nhưng bà tạng người yếu lại bận con mọn. Thằng con đầu của ông bà đã học lớp bảy mà đứa kế sau vẫn đang ẵm ngửa, chị người làm thì cứ còn cách Tết cả tháng là đã khăn gói về quê.

Người lớn không cáng được nên đám trẻ phải gánh. Có điều là phần đông đám trẻ trong nhà là bọn con giai, lại hầu hết đang nhãi ranh, từ lau nhau đến choai choai mười ba mười bốn, thực sự bậc anh, bậc chị chỉ có chị Giang trên gác và anh Trung, con trai bà Thái, dưới nhà. Tết nhất của năm gia đình cậy cả vào hai người, mà dĩ nhiên là chủ yếu trông ở Giang. Từ cuối tháng Mười Một âm lịch Giang đã phải bắt tay vào công cuộc mua sắm đầy gian nan. Chỉ thỉnh thoảng mới có được vài đứa tuổi đã nhỡ nhỡ sau giờ tan trường chịu khó phụ giúp thêm. Giang đang xoay xở khắp các chợ gần chợ xa, chầu chực xếp hàng từ tinh mơ đến tối mịt ở suốt lượt các quầy hợp tác, quầy mậu dịch. Nhưng dù cố hết sức thì cũng phải tuần giáp Tết mới mua đủ các tiêu chuẩn đồ khô như gạo nếp, gạo dự, bột mì, đậu xanh, măng, miến, bóng, chè, thuốc, mứt kẹo cả năm gia đình, rồi sau đó dồn toàn lực bình sinh mà xếp hàng nước mắm, xếp hàng giò chả và nhất là hàng thịt, hàng lá dong để chuẩn bị cho cái phần tối quan trọng của Tết là nồi bánh chưng. Chiều ngày 27 phải chạy xong mọi thứ. Lại là Giang quán xuyến việc ngâm nếp, đãi đậu, rửa lá, ướp thịt. Đến chiều 28, bởi trong nhà chẳng bà nào biết gói mà làm cũng được nên vẫn một tay Giang lo đủ ba chục cặp bánh. Trung thì phụ trách củi lửa. Mượn cái thùng phuy đựng mùn cưa của nha bà Cư để làm nồi. Còn củi, Trung ra tận bãi gỗ Phà Đen, chọn mua những súc lớn gần nguyên cây, rồi dùng xe ba gác đẩy về. Một đống củi tướng, một mình Trung huỳnh huỵch bổ suốt buổi chiều.

Mọi việc diễn ra ngoài sân. Bên này sân, trời lạnh thế mà Trung trùng trục cởi trần, mồ hôi nhễ nhại vung chiếc rìu tổ bố chỉ một nhát bổ làm đôi những súc củi to như cột nhà. Bên kia sân, chỗ gần vòi nước chung của cả nhà số bốn. Giang kê một cái chõng tre, trên giải ni lông, cặm cụi ngồi gói bánh. Bọn nhãi trong nhà xăng xái tranh nhau những việc mà anh Trung, chị Giang sai. Vừa làm vừa sung sướng nô nghịch. Với chúng thì sang hẳn năm mới, ba ngày Tết được ăn ngon, được vui chơi, được diện áo đẹp chẳng thể vui bằng khi còn đang náo nức đợi chờ Tết đến, nhất là niềm vui buổi chiều nay. Lũ trẻ vây quanh chiếc chõng xem chị Giang gói bánh. Chồng bánh chưng cao dần. Lá bánh xanh mướt, lại bánh trắng ngà. Giang xắn tay áo leo lên quá khuỷu, cánh tay, bàn tay trắng muốt lấm tấm hạt nếp và vụn đậu xanh. Giang gói không mau nhưng tuyệt khéo. Bánh như được gói bằng khuôn gỗ, song đẹp hơn nhiều, và không lỏng cũng không quá chặt. Lũ trẻ háo hức đến từng chiếc, từng chiếc đã gói xong. Khi nào gói đủ ba chục cặp bánh to, chị Giang sẽ vun số gạo nếp, đậu và thịt mỡ còn lại gói cho mỗi nhóc một chiếc bánh chưng nhỏ thật xinh mà chị gọi là “trái đất bé con”.

Sập chiều, công việc đang thật là nhộn nhịp, suôn sẻ, và đã sắp hoàn tất, anh Trung đã chẻ gần hết đống củi, chị Giang đang thắt lại chiếc “trái đất bé con” cuối cùng, thì anh Vinh, ở bên nhà số bảy, ngang nhiên bước vào sân, dõng dạc một lời chào. Anh Vinh mang một biệt danh rất dài là “Péc-sô-rin - người anh hùng thời đại”, gọi tắt là Pét, hay Pét “xồm”, bởi đang trẻ măng thế mà đã rì rịt râu quai nón còn hai bắp tay thì lông lá như tây.

Cả sân chỉ mình Giang tươi tỉnh ngước lên, vui vẻ chào lại Pét. Trung lầm lỳ làm thinh, nghiến răng quai rìu, vụn gỗ văng như mảnh đạn. Bọn nhãi, coi nét mặt ông anh cũng nhất loạt một vẻ sẵn sàng gây hấn. Chúng trừng trợn nhìn Pét. Từ trên thềm, Giôn và Ken, lao phốc xuống, và mặc cho Giang la mắng, chúng cất tiếng sủa dữ tợn, hung hăng xồ tới đón ông khách đã dám táo gan vào đây trêu ngươi. Nhưng chỉ một cái giậm chân, Pét đã khiến hai con chó cúp đuôi chạy dạt. Lũ trẻ cũng né ra. Pét khoan thai đi tới bên Giang. Anh diện một áo da Tiệp, da thật hẳn hoi, quần nhung kẻ, giầy mõm ngoé, tóc hớt đẹp, chải rất mượt. Pét đẹp giai nhất phố. Vai rộng, đô con lại cao người, một dáng vóc rất chuẩn, lại mũi thanh, miệng rộng, lại râu quai nón. Mặc dù song thân vốn là chủ một tiệm kim hoàn, và của ngầm chắc hẳn còn vô khối, nhưng Pét chẳng cậy của. Hiện anh đang học việc ở rạp xiếc của ông Tạ Duy Hiển.

- Giang khéo tay thế, gói đẹp quá! Thế này thì cả đến Galilê cũng phải tin là đất vuông trời tròn! - Nhấc một cặp bánh lên, anh ngắm nghía, tấm tắc. - Bên nhà anh dùng khuôn, cứ như thỏi gang. Tết sau giá mà đã được Giang sang gói cho nhỉ?

Tính tình cởi mở, nói năng dễ mến, Pét được cả phố ưa, trừ bọn trai nhà này. Tuy nhiên anh vào thăm Giang chiều nay hoàn toàn không phải cố tình gây một sự đường đột để khiêu khích trêu ngươi Trung mà thực tình là anh được phép. Ai cũng biết mới đây bố mẹ Pét đã sang nói chuyện với ông nội của Giang. Chưa phải một sự ướm hỏi mà chỉ để bước đầu có sự qua lại giữa hai bên gia đình nhằm cho phép hai trẻ được tìm hiểu nhau. ý ông cụ thế nào không rõ, nhưng Giang thì chắc chắn là phải đầy thiện cảm với Pét. Hoàn cảnh ba ông cháu Giang khó khăn thế mà gia đình Pét khá giả thế. Bản thân Pét lại là một chàng trai hạng ưu như thế, tốt tính đẹp mã như thế.

Pét đã thảo kỹ một chương trình vui xuân cùng Giang. Nhiều mục rất tuyệt. Bắt đầu ngay từ tối 28. Đoàn ca múa Tân Cương công diễn buổi đầu. Không bán vé, chỉ giấy mời, nhưng Pét vẫn xoay được. Anh rút từ ngực áo ra hai tờ bìa gấp khổ to, in mầu rất đẹp đưa cho Giang.

- Lô hạng nhất đấy! - Anh nói - Đúng mười chín giờ mở màn. Em làm thoáng lên cho xong để còn thì giờ mà chuẩn bị. Cũng cần phục sức một chút em ạ. Nhà hát Tây mà. Sáu giờ mười anh sang đón.

Vẫn cây rìu trên tay, mặt quàu quạu, Trung lừ lừ bước tới, không thèm nhìn Pét, lớn giọng nạt Giang:

- Hát tây hát tàu cái gì! Có nhúm gạo đùm mãi không xong, bao giờ mới được bánh vào nồi?

- Thì xong cả rồi, chẵn sáu chục chiếc rồi đây, - Giang nói. - Chỉ cần xếp vào nồi nữa thôi. Với lại lo gì, cũng còn sớm mà, Trung.

- Hừ, sớm! Việc còn bề bề ra, đấu hót mãi thì tới khuya! Hay là cứ tán láo tới sáng mai đi!

- Có làm lụng thì phải có nghỉ ngơi chứ, tết nhất cơ mà, - Pét nói xen vào. - Gì mà ra oai ghê thế?

Chẳng nói chẳng rằng, Trung chém mạnh, lưỡi rìu cắm phập xuống sát sạt mũi giầy Pét. Hết hồn, anh này nhảy giật lùi lại, suýt ngã ngửa. Giang tái mặt, ngồi sững. Cả sân lặng ngắt như tờ.

- Mày xéo ngay, thằng con nhà tư sản béo bụng, - Trung nói, - Còn quẩn chân người ta làm việc, tao cho mày nằm viện ăn Tết!

Tức giận, giọng run lên, nhưng Pét vẫn rán sức giữ phẩm giá; - Cậu vô lý quá. Ai làm gì cậu… Tự dưng cà khịa chửi càn!

- Này thì cà khịa! - Trung gầm lên và đấm liền.

Cú đấm thình lình nhưng Pét né mặt tránh kịp. Anh dịch chân sang một bên và giáng trả một cú nhẹ vào ngực đối thủ, đồng thời cảnh cáo:

- Khôn hồn thôi đi! Mày biết tao mà, Trung!

Pét chơi nhiều môn thể thao. Ham nhất là quyền Anh. Ngày nào cũng luyện. Anh bật cười khi Trung một lần nữa quại bừa một cú đấm điển hình cho lối đánh của bọn cậy khỏe mà kém khôn. Tuy vậy anh cũng thấy cần phải tung ra liên tiếp hai đòn thật là chuyên nghiệp, một giữa mặt, một móc hàm, quật Trung xuống sân. Bọn trẻ nhà số bốn, và cả gần chục đứa nhà bên số lẻ vừa tràn sang làm ủng hộ viên cho Pét, đứng khép thành một vòng tròn vây quanh bãi đấu, nhưng đều im thin thít và bất động không dám mùa vào hỗn chiến. Đây là cuộc tay bo của bậc đàn anh. Người lớn trong nhà và những người qua đường không hề hay biết là đang có ẩu đả trên sân.

Mình mẩy trần trụi, lấm lem, mồ hôi ròng ròng, mặt lõa máu, Trung loạng choạng đứng dậy. Quân tử, Pét không xấn vào đấm ngay, nhưng mà cũng đã hăng máu lên, anh kéo phẹc-mơ-tuya, cởi áo da ra, và một cách đàng hoàng thong thả xắn tay áo sơ mi. Chính cái động tác đẹp mắt này đã khiến cho người chỉ quen giao phong theo luật lệ bị kẻ đã từng trải đập lộn trên hè phố nện cho nhừ tử. Dốc toàn lực bình sinh, như một đầu máy xe lửa, nghiến răng, Trung lao xộc tới, húc cái sọ dừa rắn câng vào bụng “Người anh hùng thời đại”. Pét ngã ngửa người lên cái chõng tre. Chân chõng gãy rụp, chồng bánh chưng lật nhào. Trung nhảy bổ đến, chặn đầu gối lên ngực Pét, và mắm môi mắm lợi đấm tới tấp xuống mặt anh này. Cuộc quyết đấu từ khởi đầu đến kết cục có lẽ chưa đầy một hiệp ba phút. Trong suốt những giây đồng hồ đổ máu mồm máu mũi ấy, cả hai đối thủ lẫn đám khán giả bâu kín võ đài không hề ai kêu lên một tiếng.

Vin cánh tay một thằng bé, Giang run rẩy đứng dậy. Mặt nhợt nhạt, thất thần, môi lảy bẩy, cô van vỉ, những lời không thể nào ai nghe thấy. Vẫn chỉ nghe uỳnh uỵch hự hự. Trận ẩu đả đã quá độ vũ phu, trở thành trò man dại. “Thôi đi mà, trời ơi, thôi đi!”, dồn hết sức, Giang la lên và vùng khỏi tay bọn trẻ, cô lăn vào giữa cuộc đấu, và túm tóc Trung kéo giật, buộc Trung phải nhả Pét ra.

Thở hồng hộc, Trung đứng vụt lên, mặt mày máu mê, một mắt đã sưng, một mắt ngầu đỏ trợn trừng, hai nắm đấm vẫn siết lại, răng nhe ra như chực đớp Giang một cái.

- Đồ ác ôn! - Nghẹn ngào, Giang thốt kêu lên, tiếng kêu thảm thương và tức cười - Đồ Mỹ Diệm!

- Diệm ngoẻo rồi còn gì! - Một thằng ranh nào đó buột miệng.

Bật òa lên khóc, Giang quay mình chạy lao vào trong nhà.

Mọi sự như thế là tung hê. Ngày vui tưởng đã tan tành. Bọn trẻ nhớn nhác, không biết phải làm sao bây giờ. Đứa nào đứa nấy mặt mày tiu nghỉu, buồn xo. Có đứa mếu máo. Nhưng cuối cùng thì anh Trung của chúng cũng không vì giận chị Giang mà bỏ rơi chúng. Rồi bánh cũng được xếp vào phuy, nước đổ đầy, lửa được nhóm lên, củi cháy đượm. Ngọn lửa reo vui, hơi lửa lan tỏa. Dọc phố gió bấc lùa hun hút mà trong sân ấm ran, và đã nghe đậm dần lên mùi thơm của lá và gạo nếp. Bọn trẻ trải chiếu ra sân đánh bài và nói phét. Dễ chịu, êm đềm, ấm cúng, như mọi năm. Nhưng khác là không có chị Giang. Chị Giang không xuống vui cùng. Không có chị thì không có táo, thứ quả chị ưa nhất khiến bọn chúng cũng ưa nhất, không có ngô nướng, và không có giọng kể chuyện du dương, không tiếng cười trong trẻo của chị. Không có chị, anh Trung mất hết tính hồ hởi thường ngày. Nặng chình chịch cái mặt bị ăn đấm sưng vù, anh ngồi thì lỳ một cục. Anh chỉ hé răng nói đôi lời với anh công an tuần đêm tạt qua hút điếu thuốc lào và với chị công nhân quét rác ghé vào sưởi ấm chốc lát. Không được anh chung vui, niềm vui của lũ trẻ nguôi dần. Mọi năm cả lũ trẻ thức chơi đến tận sáng, nhưng đêm ấy, khi họa sĩ Năm Tín rẽ vào thì bọn lau nhau đã đi ngủ hết, chỉ những đứa lớn còn ngồi canh bếp lửa với Trung.

Thằng Bình, em Giang, theo lệnh chú Năm chạy lên gác gọi chị, nhưng vì đã nhất quyết từ mặt Trung nên Giang nhất định không chịu xuống. Cô sai thằng Bình bưng bộ ly cùng đĩa mực nướng xuống để chú Năm uống rượu. Cô còn bắt nó quay lên lần nữa để mang chăn bông, kèm theo một rổ táo ta với chục bắp ngô xuống cho “bầy lũ anh em nhà chúng mày”.

Bọn nhãi xuýt xoa vui sướng chào đón quà của chị. Chúng lập tức chiến đấu với rổ táo và lập tức bắt tay vào nướng ngô. Trung lầm lầm gạt phắt mấy quả táo, gạt phắt cả bắp ngô nóng hổi, thơm lừng bọn nhãi vừa nướng xong.

Ông Năm rót rượu ra hai ly.

- Một ly với qua, Trung! - Ông nói. - Chiến sĩ rồi, uống được.

Trung lắc đầu. Ông Năm thở dài, tợp nhanh, cạn ly.

- Nam nhi như cọp, vấp cái quên liền. Không để bụng giận lẫy. Mấy lại sắp xa nhà rồi, mau mà làm lành với nó đi.

Ông làm nhanh ly thứ hai, rồi lại rót tiếp. Uống suông, không nhắm, ông đưa đĩa khô mực cho bọn trẻ…

Đã ăn hết táo, hết ngô, đã xơi hết đĩa mực, bọn trẻ buồn ngủ. Chú Năm chẳng nói gì, chỉ uống. Một mình chú mà đã gần cạn chai Lúa Mới. Anh Trung thì một mực lặng thinh. Rầu rĩ, bọn trẻ díp mắt lại, lần lượt, đứa này tiếp đứa khác kềnh ra chiếu. Hai con chó chen vào nằm với chúng.

Nước trong phuy sôi đều đều. Tiếng củi nổ lách tách. Từ trong sáng khó mà nhìn thấy gì trong bóng tối bao quanh, vì vậy đường phố, nhà cửa như bọc trong tấm màn đen. Tuy nhiên, có thể thấy bầu trời đã chuyển mầu xám nhợt, đã sáng hơn và càng lạnh hơn. Gió bấc đã ngừng thổi từ lâu, không khí mau chóng thấm đẫm sương giá. Sắp rạng mai đến nơi rồi.

- Thôi. Qua về! - Ông Năm chợt lên tiếng sau suốt mấy canh giờ lặng ngắt, một mình rót, một mình uống.

Cầm lấy chiếc cặp đã xẹp lép, ông loạng quạng đứng dậy. Trung nhổm lên, muốn đỡ ông.

- Khỏi! - Ông gạt đi - Qua đâu có say. Say sao nổi, con ơi!

Nồng nặc mùi rượu, ông ôm lấy Trung:

- Mồng năm con lên đường hả? Lên đường mạnh giỏi nghe con… Chú Năm về nghe con… Chú Năm về. Chú Năm về lập bàn thờ cho ba má chú Năm, cho vợ chú Năm và sắp nhỏ, Trung à…

Bất đồ, ông bật khóc, nấc nên, ằng ặc, nghẹt thở, toàn thân run bần bật.

- Tụi nó tàn sát hết cả gia đình chú rồi Trung à. Giết hết… giết hết cả, không trừ ai. Con gái út chú. Thằng Ba. Thằng Hai. Ba đứa con chú bị giết một khi. Rồi tụi nó sát tới bà già chú, ông già chú, Trung à. Rồi vợ chú, má sắp nhỏ, bị bầy thú dã man tụi nó sát hại sau rốt… Mà đã hai năm rồi. Tối nay họp đồng hương, có đồng chí ở trỏng ra, chú mới hay, Trung à.

Ông khàn khàn kể, ông khóc rưng rức. Và gạt Trung ra, ông loạng choạng bước đi men theo bờ tường, đi về cuối phố. Vừa đi vừa khóc.

Tảng sáng, Giang xuống, mang thêm chăn đắp cho bọn trẻ. Cô bảo Trung về phòng mà ngủ để bếp lửa đó cô trông. Trung ngồi im, không buồn trả lời. Giang bực mình dợm ngay vào nhà, nhưng rồi nghĩ ngợi sao đó cô lại ngồi xuống bên bếp, tuy nhiên ngồi né xa, thật xa Trung…

Một thằng bé bị lũ bạn kéo tuột mất chăn, loàng quàng mở mắt ra. Nó nghe tiếng anh Trung rì rầm kể gì đó về chú Năm. Nó nghe tiếng chị Giang khóc thút thít. Rồi lại trở lại yên lặng. Yên lặng rất lâu, rồi se sẽ những tiếng động là lạ. Thằng bé rướn cổ lên nhìn. Cảnh vật còn tối lắm. Trong ánh lửa, nó thấy anh Trung chị Giang ngồi sát vào nhau, và hơn thế nữa, còn ôm chặt nhau. Tóc chị xõa tung, cả hàng cúc áo len của chị bật ra. Nó nhìn thấy cùng một lúc cả cần cổ trắng ngần của chị cả đôi môi anh Trung, bàn tay anh Trung. Nó cảm thấy cùng lúc cả hơi lửa nóng hừng hực, cả hơi thở của ban mai lạnh lẽo.

Vậy mà, thật là không thể làm sao hiểu nổi, ngày hôm sau, đêm giao thừa và suốt mấy ngày Tết, nó thấy chị Giang vẫn lại chỉ chơi với Pét xồm. Mặt mày thâm tím, Pét vẫn cứ đẹp trai, và rất diện, anh ngây ngất mê mẩn, sung sướng cưỡi chiếc xe đạp Pơgiô mầu mận chín chở chị Giang bay đến tất tật những tụ điểm có ca nhạc và vui chơi trong thành phố ngày xuân.

Lễ tiễn tân binh được tổ chức vào sau buổi trưa ngày Mồng Năm Tết, dưới chân gò Đống Đa. Người ta bảo rằng trong suốt mười năm, từ ngày hòa bình lập lại đến giờ, ở Hà Nội chưa từng có một đợt nghĩa vụ quân sự nào quy mô lớn như đợt này. Hàng trăm người lên đường, hàng nghìn người theo tiễn. Và khi biển người đứng nghiêm hát Tiến Quân Ca thì trước cửa đền Trung Liệt, cờ đào Tây Sơn được chầm chậm kéo lên sóng đôi cùng cờ đỏ sao vàng. Bầu không khí tưng bừng náo nức của lễ hội tòng quân hòa vào hùng khí thiêng liêng ngày Giỗ Trận nâng bổng tâm trạng từng người, giúp gạt đi chút ít những niềm bịn rịn. Ông thượng úy khu đội trưởng dõng dạc điểm danh tân binh. Đọc đến tên ai thì người ấy Có lên một tiếng thật to. Mỗi người hình như chưa bao giờ đạt được một giọng nói trội như vậy. Anh chàng được gọi tên sau Trung lại dài giọng. “Dạ, có tôi đây!”, khiến mọi người cười rộ. Thượng úy đọc đã khản tiếng mà bản danh sách còn rất dài. Càng đông càng vui. Nghe đọc đến tên ai quen, Trung lại nhón chân lên, rướn cổ tìm kiếm. Mọi người ầm ĩ gọi nhau, hồ hởi vỗ vai nhau “A! Mày đấy à, cũng đợt này à, hay quá! Mày này, tao này, thằng Yên, thằng Tú này…”. Rồi, thằng Tiến, thằng Cung, thằng Bình “mắt lươn”, thằng Mão “nhọ nồi”, thằng Toàn “min tu”, thằng Bào, thằng Vũ… thằng con đầu nhà bà giáo Son, thằng con thứ nhà ông Tâm y tá, thằng cháu đích tôn nhà cụ Doãn vẽ truyền thần, nhà Phúc béo gia công mỳ sợi, nhà Vạn toét chữa xe đạp, nhà Minh điếc bán nước sôi… Đông đảo người đi thế này làm sao mà biết hết nhau được. Không khéo sau đợt nghĩa vụ này, phố tụi mình chỉ còn lại bọn lỏn con và bọn con gái.

Trung nhìn quanh. Hình như hôm nay tất cả các cô nàng trong khu phố đều hội lại ở đây, và tất thảy bọn họ nom đều xinh tươi hơn bao giờ hết. Nào Liên, nào Yến, nào Oanh, nào Phượng… các cô khoác tay nhau túm tụm thành từng nhóm, líu ríu vui vẻ xúm quanh các chàng.

Người đi tiễn Trung cũng rất đông, mẹ và ba đứa em, cùng tất cả bọn nhóc nhà số bốn. Về chiều, càng lúc càng lạnh mà lễ tiễn có vẻ còn kéo dài, Trung bảo các em đưa mẹ về, nhà bà Thái nhất định không chịu. Yếu lả, nhợt nhạt, run rẩy, bà bám chặt lấy tay Trung đứng sát vào anh, nghẹn ngào, gượng cầm nước mắt để dặn đi dặn lại mãi những điều không đâu vào đâu. Trung ngượng:

- Mẹ kìa, mẹ! Đừng thế, mẹ! Người ta trông vào đấy, mẹ…

Anh bảo lũ đàn em trong nhà:

- Chúng mày động viên mẹ tao, đừng để mẹ tao khóc ở đây đấy nhá. Cả về nhà nữa. Chúng mày giúp mẹ tao các việc nhá. Tao đi ba năm rồi về. Mà cũng có nghỉ phép nữa… Chúng mày thay tao lo mọi thứ cho nhà số bốn mình nhá. Nhớ chăm cây táo tao trồng. Ba năm nữa tao về, ngọn phải chấm ban công tầng hai đấy…

Trung nói, cười, nhưng vẫn buồn ra mặt, vẫn nhìn quanh nhìn quất. Bọn trẻ hiểu lòng anh, thương anh lắm, nhưng chẳng biết làm sao. Ông nội chị Giang vừa vào viện đêm qua, chị phải túc trực chăm nom. Vả lại lúc nào bên chị cũng có Pét xồm kè kè hộ tống.

Tiết trời xuân lạnh lẽo, nhưng sắc trời xuân trong xanh. Sau phần diễn văn của các quan khách, của lãnh đạo các ban ngành, đoàn thể thành phố và khu phố, tới mục đại diện tân binh đọc quyết tâm thư, rồi đến mục làm giao ước thi đua giữa thanh niên đi nghĩa vụ quân sự với thanh niên ở nhà sản xuất, rồi nữa là vui văn nghệ, ca hát và ngâm thơ. Có cả một ông nhà thơ nghe nói là từ tận trên Hội Văn nghệ đích thân đưa thơ mình xuống biểu diễn úy lạo bộ đội. Đầu đội mũ sắt, cổ quấn khăn rằn kiểu du kích Nam Bộ, mình vận bành tô Liên Xô có viền lông, ông sừng sững trên diễn đàn, ngâm vào loa những vần thơ như sấm. Ngay khi trường ca hùng tráng còn một đoạn dài nữa mới hết, vì quá xúc cảm, gần hai chục thiếu nữ có nhiệm vụ tặng hoa bộ đội khi nào bế mạc buổi lễ, đã vội ào cả lên diễn đàn dâng vào lòng tay thi nhân những bó lay ơn tươi thắm khiến ông này phải rất vất vả gỡ mình ra khỏi hoa để ngâm nốt phần còn lại. Sau trường ca này, mặc dù còn lâu trời mới tối và mặc dù còn nhiều nhà thơ nữa muốn lên trình bày sáng tác của họ, song các sĩ quan tuyển quân đã vội ngăn họ lại để cho buổi lễ được kết thúc.

Tân binh được lên xe. Gần hai chục chiếc xe buýt được trưng dụng để chở quân, đậu ở góc sân, đồng loạt nổ máy và nhấn còi. Tiếng còi ô tô được sự ồn ào lên đến tột độ.

Trung ôm lấy mẹ, ôm lấy ba đứa em, và lần lượt ôm lấy từng thằng nhãi em út của anh trong nhà số bốn, siết tất cả vào vòng tay mình lần cuối.

- Thôi nín đi, đừng khóc! - Đừng có khóc, để cho anh đi! Chúng mày đưa mẹ về đi. Mẹ ơi, mẹ về, con đi!

Anh liệng ba lô lên trước, rồi trèo vào ô tô qua lối cửa sổ. Quanh xe người ken dày vậy mà bà Thái vẫn len vào được, với với tay lên cửa sổ.

- Mẹ! Trung luýnh quýnh nắm vội lấy tay mẹ, rồi phải buông ngay vì bị kéo lùi vào trong nhường cho người khác chen ra choán lấy khoang cửa.

- Toàn đấy hả cháu. Toàn ơi! - Trung nghe tiếng mẹ nức nở kêu lên với Toàn “min tu”, thằng bạn nhà số băm sáu cùng phố, đang đứng lấp trước mắt anh - Cháu trông nom nó cho bác với Toàn nhé, Toàn ơi!

Xe chuyển bánh, chầm chậm bò, chật vật xuyên qua những tiếng gào gọi, tiếng kêu, tiếng cười và cả những tiếng khóc. Đúng giây lát đó, qua vai Toàn, Trung nhìn thấy Giang giữa đám đông. Bằng một phép mầu nào đó, chỉ một cú huých tay, anh đã vọt được ra khỏi xe.

- Giang! - Trung gào rống lên. Anh ở đây, anh ở đây!

- Anh ở đâu? - Cô gái lách qua đám đông, vừa len lách vừa kêu lên thất thanh. - Anh ở đâu, anh ơi?

Chen bừa đi, vấp dúi dụi, không thấy ai cả, không thấy gì hết, mắt dại đi, tóc xõa tung, thở hổn hển, cô nhào tới chỗ Trung. Anh chàng chen bật mấy người đang đứng chắn mất lối, rồi gần như hùng hổ, lao xộc tới chộp lấy Giang, ôm choàng lấy, ghì chặt.

Khác với các đợt trước, đợt lính nghĩa vụ này phần đa đều như Trung, tuổi còn rất trẻ, vì vậy ít thấy cảnh vợ tiễn chồng, thế nhưng bù lại người ta thấy xuất đầu lộ diện khá nhiều cặp chàng nàng như Trung và Giang. Và có lẽ cũng như Giang và Trung, tất cả những vụ yêu đương đó đều là những mối tình non dại, đầy rụt rè và sợ sệt, bấy lâu chẳng dám lộ mình mãi đến giây lát phải chia lìa mới không còn đừng nổi.

Ngay trước mắt bao người mà Giang liều lĩnh xoắn mình vào Trung. Xoay lưng lại với thiên hạ, tóc đổ xõa xuống vai. Giang đứng úp người vào Trung, hai cánh tay vòng lên ôm lấy cổ người yêu. Còn Trung, hai bàn tay to tướng táo tợn lùa sâu vào trong áo len của Giang, ghì riết lấy Giang từ bên trong. Bao nhiêu người thở dài, ngậm ngùi, nhìn tránh đi.

Đoàn xe nâng dần tốc độ. Trên chiếc xe chạy đầu, tiếng hát cất lên, lan dọc đoàn xe, truyền dọc phố. “Ai đã từng đi qua sông Cửu Long Giang, Cửu Long Giang sóng trào nước xoáy. Ai đã từng nghe tiếng tiểu đoàn, tiếng tiểu đoàn Ba trăm lẻ bảy. Buổi xuất quân tiểu đoàn năm ấy, cả tiểu đoàn thề dưới Sao vàng…”.

Dưới đường, Trung đang cố sức chạy rượt theo chiếc xe chót và cuối cùng đã đuổi kịp. Từ cửa hậu chiếc xe, những bàn tay chìa xuống kéo anh lên. Phía sau, Giang chạy với theo, toàn thân ngả về phía trước như cố cưỡng luồng gió mạnh, và rồi lảo đảo cô ngã xoài xuống nền đất ướt át.

“Người con gái Hà Nội, những nàng tiên nghèo đẹp nhất trần gian, da trắng, môi hồng, mắt huyền, mi rợp”, trên đời này từng có một bài ca với lời ca như vậy, tôi đã từng được nghe ở đâu đó, vào một lúc nào đó không nhớ nữa. Tôi là một thằng nhãi nhà số bốn đã theo tiễn anh Trung ở chân gò Đống Đa, buổi chiều ngày Giỗ Trận. Và tôi là đứa đầu tiên chạy lao đến đỡ chị Giang dậy. Chị khóc nức nở, toàn thân run lật bật trong tay tôi. Dọc đường về tôi vẫn phải nhẹ nhàng thận trọng ôm giữ lấy chị. Chị cứ vừa đi vừa ôm mặt khóc mãi, mặc cho xung quanh người ta kinh ngạc nhìn ngó. Vào những năm ấy, chẳng ai lại yếu đuối và bi thương một cách lạ lùng như thế.

Những tháng sau đấy, những năm sau đấy tôi còn dự nhiều lễ giao quân khác nữa. Và rồi bản thân tôi năm năm sau cũng đến lượt lên đường chiến đấu. Vậy mà tôi không bao giờ có thể quên lần cùng bạn bè nhà số bốn tiễn biệt anh Trung. Đây là cuộc đưa rước thanh niên đi làm nghĩa vụ quân sự trong thời bình, và vào những ngày đầu năm 1964 ấy, thì trong tầng lớp bình dân ngay những người đứng tuổi và trải đời cũng khó mà biết chắc sẽ là như thế nào những năm tháng đang đón rình phía trước, nói gì một thằng bé mới mười ba tuổi đầu như tôi, vậy mà… Không, không phải do ngày nay nghĩ lại mà mường tượng ra như thế. Mà thực sự là như vậy, vào buổi chiều hôm ấy, một chiều mùa xuân cực độ thanh bình, dưới chân gò Đống Đa, tôi đã cảm thấy trời long đất lở trong lòng mình. Mà thật ra, nào phải là tôi, thật ra là nhân dân, nhân dân muôn thuở dịu hiền, muôn thuở cầu ước sống bình yên, đã âm thầm cảm thấu con sóng lừng thời đại mới đang ập thẳng tới bến bờ Tổ quốc tôi. Một thời đại lớn lao và nghiệt ngã chưa từng có. Thời của chiến tranh và của cách mạng lay trời, thời của những đau thương vô hạn, những mất mát vô bờ, thời của chủ nghĩa anh hùng tuyệt đỉnh, của sức chịu đựng vô cùng, thời của tình yêu và của lòng quả cảm. Và từ họa sĩ Năm Tín, từ anh Trung, nhất là từ bà mẹ anh, từ chị Giang, những người đàn bà mềm yếu và nhân từ, thân thương hiền dịu của ngôi nhà số bốn, linh cảm về số phận sắp tới của dân tộc đã truyền vào trái tim tôi, làm xoay chuyển cuộc đời tôi ngay từ khi tôi chưa kịp bước hẳn vào đời. Đối với tôi, thời thơ ấu êm ả và tươi đẹp thế là đã vĩnh viễn và dữ dội ra đi vào chính cái buổi chiều mùa xuân êm ả và tươi đẹp đầu năm Giáp Thìn ấy.

Một tuần sau Tết, do cha tôi được lên lương, tiêu chuẩn nhà cao cấp hơn nên gia đình tôi chuyển vào ở trong trung tâm thành phố. Tháng tám, bọn Mỹ ném bom miền bắc, tôi theo trường sơ tán về miền quê rất xa. Năm thì mười họa mới được một dịp về loáng qua Hà Nội. Rồi nhập ngũ. Đi Bê dài. Cứ xa mãi, xa mãi như thế khỏi điểm ban đầu, nhưng đường đời của ai mà không như vậy?

Trở về sau chiến tranh, nhìn lại sau lưng chỉ thấy sừng sững trường thành của ký ức chiến trường. Những năm xa vời trước thời lửa đạn đã tan bay theo gió thời gian. Thảng hoặc mới có việc dọc qua phố cũ, ngang qua nhà xưa, thế mà cũng thường là cứ dửng dưng ngang qua vậy thôi, chẳng mấy khi để mắt ngó vào. Ngôi nhà nhiều chục năm rồi vẫn thế, tất nhiên là cũ kỹ hơn, mặt tiền cau có, nứt nẻ, tường vôi tróc lở. Mỗi khi ghé vào thăm chỉ cảm thấy chán ngắt. Nhem nhuốc, ồn ào, chật chội và quá nhiều người lạ mặt. Niềm vui duy nhất là thấy được còn đó cây táo anh Trung trồng trước ngày nhập ngũ. Ngọn cao quá ban công tầng hai, cây sai quả, trùm bóng mát lên sân. Song le cái giống táo ta ấy là thứ cây ăn quả dường như đã lỗi thời, và bản thân nó, cây táo của anh Trung, cũng đã già rồi.

Tết này, khi từ nhà mới cuối phố đi bộ lên đầu phố vào thăm nhà cũ số bốn, tôi không còn thấy cây táo già đó nữa. Tấn, cậu em út của anh Trung, một thương binh trong chiến tranh biên giới, được phường ưu tiên cho phép cơi nới diện tích ở ra khoảng sân trước mặt nhà. Mặc dù chẳng muốn nhưng đành phải chặt cây táo ấy đi mới xây ra được.

- Hồi chiến tranh phá hoại, sân phải đào tung lên xây hầm công cộng mà bọn em vẫn giữ được nó. Thế mà giờ chặt nó đi, khổ tâm lắm anh ạ. Nhưng biết làm thế nào được, hả anh. - Tấn buồn rầu bảo thế.

Tôi hỏi thăm chị Giang, cậu ta cho biết vợ chồng chị vào ăn Tết trong Sài Gòn. Và có lẽ rồi đây chị sẽ chuyển hẳn vào sống trong đó.

Ra Giêng, tôi tới thăm chị. May mắn sao. Chị có nhà.

Bởi tất cả những lần trước đây đến chơi nhà số bốn, tôi đều gặp phải khi chị đi công tác, thành ra như vậy là chẵn ba mươi tư năm trời xa biệt, cho tới hôm nay. Vẫn căn phòng xưa, ban công trông ra phố. Tường vôi ve. Cửa sổ buông rèm xanh. Bàn thờ luôn luôn ba cây hương thầm lặng cháy. Khi chị mở cửa ra tôi bước vào, trong phòng chưa bật đèn. Trong ánh hoàng hôn hồng rực tràn ngập căn phòng, tôi thấy chị vẫn hoàn toàn là chị Giang ngày xưa của tôi. Và có lẽ bởi ánh nhá nhem chiều tà mà chị cũng thấy tôi như vậy chăng. Chị nhận ra tôi ngay, thảng thốt chị gọi tên tôi, kèm cả biệt hiệu. Lòng tôi đau nhói.

Rất lâu, chị ngồi bên tôi, lặng khóc. Tôi cũng vậy nước mắt nóng rực như kim châm trong tròng mắt. Bên ngoài, thành phố đã lên đèn, tôi và chị tay trong tay, thu mình trong bóng tối, cố hết sức để tĩnh tâm, để hồi lại.

Giọng run run, chị khe khẽ bắt đầu trò chuyện. Tôi cũng vậy, bắt đầu nói, bắt đầu kể. Cuộc đời tôi. Cuộc đời chị. Thì cũng như cuộc đời của bao người thôi trên đất nước này những chục năm qua, mà sao nhắc lại trái tim cứ đau thắt lại thế này. Nhưng rồi cả hai chúng tôi đều đã vượt được lên khỏi nỗi lòng mình để mà dần dần điềm tĩnh lại.

- Cậu còn nhớ chú Năm họa sĩ không?

- Có chứ chị. Nhưng tôi chẳng hề được gặp lại trong suốt chừng bấy năm. Giờ chú ấy ra sao?

- Chú mất rồi. Mất năm Chín mươi. Tại quê nhà Năm Căn. Chú ấy đi Bê năm Bảy Mốt. Chị cũng không được thấy lại chú ấy từ năm đó. Trước khi mất không lâu, chú có ra thăm Hà Nội và có lại đây tìm chị, mà không gặp. Chỉ gặp anh Vinh, chồng chị. Chú Năm có gửi lại chị món quà…

Vinh? Tôi rùng mình. Thế nào mà chồng của chị cũng tên là Vinh cơ chứ, trời ơi! Anh Vinh ngày xưa, anh Pét xồm đẹp trai, từng mê mẩn chị, đã hy sinh trong mùa khô khốc liệt năm Bảy Hai. Hy sinh ngay trước mắt tôi. Chính tiểu đội tôi bám chiếc xe T54 của anh xung phong vào căn cứ Plây Cần. Đã đột phá được qua cửa mở, chúng tôi vừa bật lê ào xuống khỏi xe từ hầm ngầm, liền hai trái M72 bắn chéo cánh sẻ phụt tới. Toàn tổ lái cùng với chiếc xe bùng cháy…

- Chị hỏi thăm nhiều họa sĩ mà chẳng ai nhớ đến chú ấy. Tên tuổi chú ấy không được như họ. Nhưng mà cậu xem này.

Chị Giang với tay bật đèn. Chỉ một ngọn thôi, ánh sáng dịu như là ánh nến. “Lại đây!”, chị nói khẽ và nhẹ nhàng rời ghế, dịu dàng chị nắm tay tôi, đưa tôi lại gần khuông cửa sổ buông rèm. Trên tường, kề cửa sổ, treo một bức sơn dầu, viền trong khung gỗ mầu nâu.

Đang bước tới gần, tôi như bị vấp một cái. Vấp phải một cảm giác. Một cảm giác dội ra từ bức tranh. Tôi nhìn, chết lặng trong người. Họa sĩ vẽ chúng tôi. Bảy người. Và đúng là cái đêm xưa, 28 Tết năm Thìn ấy. Cảnh tượng thật là huyện diệu: xung quanh đống lửa, một vầng hồng lung linh, dập dờn và dường như đang muốn vùng quẫy với vòng vây của đêm tối để tỏa rộng ra mãi. Bầu trời trước đêm trừ tịch không tăm tối đen đặc mà quang đãng, tối thẫm trải rộng trên đầu chúng tôi với tất cả vẻ hùng tráng và trang nghiêm, bầu trời đêm trước của một thời đại phi thường, một bầu trời đêm không bao giờ con người thời nay còn được thấy. Và tôi cũng nhận thấy trong đêm tối của bức tranh những khối hình và đường nét thân thuộc thuở xưa mà ngày nay đã mai một rồi của dãy phố này.

Nhưng cái chính làm nên bức tranh là chúng tôi, những gương mặt được ánh lửa soi hồng, được tả thực một cách chân xác và đầy biểu cảm. Tuy nhiên, tất cả cái đẹp, cái chân thực và thần thái mê hồn của bức tranh lại tạo cảm giác đau buốt. Xuyên ngọt qua thời gian và cả qua da thịt. Bức tranh cho tôi thấy một điều hiển nhiên mà bấy lâu nay với cái ý thức đã ngày một trở nên phẳng lỳ, tôi đã không thể có khả năng một lúc nào đó tự nhận ra, trong số chúng tôi, sáu thằng con trai còn trẻ con và non dại đến thế đang ngồi kia quanh nồi bánh chưng trong bức tranh này, đến ngày hôm nay chỉ còn sống có một, chỉ độc nhất một mình tôi. Một mình tôi mà thôi!

Tiết thanh minh năm ngoái, ngang qua Gio Linh, vào viếng Nghĩa trang bộ đội Trường Sơn, tôi đọc thấy tên tuổi Bình trên một trong hàng ngàn mộ chí của khu các liệt sĩ quê Hà Nội. Chị Giang bảo là vợ chồng chị đã tính đưa Bình ra ngoài này, nhưng một đêm nọ Bình báo mộng, cho biết là muốn mãi mãi nằm bên đồng đội, mãi mãi với rừng le đồi lau đất đỏ chiến trường xưa, thành thử… Trong tranh, Bình là một thằng bé mới mười tuổi, gương mặt phảng phất nét chị Giang, mịn màng và thanh tú. Nó ngồi bó gối, vóc mảnh khảnh, tóc xoăn, cái miệng phụng phịu.

Ngồi cạnh nhóc Bình là thằng Phái, năm ấy mười hai tuổi. Tóc húi cua lộ rõ cái đầu méo và đầy sẹo, gò má nhọn, mồm rộng trành bành, mặt nhợt nhạt, rỗ tổ ong, đôi lông mày chau chau, cau có. Nó là thằng con đầu của ông Tá tài xế. Xấu xí, thô kệch, ăn bận tồi tàn, lôi thôi lếch thếch nhất hội song là một đứa con trai tốt bụng và chân thành biết bao. Phái đi bộ đội cùng năm Sáu Chín với tôi, nhưng không sung vào bộ binh như tôi mà được điều sang cao xạ. Đóng chốt ở Hà Nội và hy sinh ở Hà Nội, trong chiến dịch Mười hai ngày đêm đánh B52.

Thằng Sơn, con trai ông Cư sở điện, tuy rằng bố bị tù, song là đứa duy nhất trong nhà học lên đến đại học. Nhưng trong tranh nó vẫn còn là một thằng nhãi chỉ hơn tôi có một tuổi, đầu tóc bù xù, thân hình gày gò và trông rõ là lùn tịt mặc dù nó đang ngồi xếp bằng. Gương mặt thô nhưng bởi đôi mắt thật là to và sáng mà nom thông minh cực kỳ. Nó ngồi cạnh nồi bánh chưng mà vẻ mặt như thể đang ngẫm nghĩ kế sách giải những bài đại số đang tích ở trong đầu. Sơn thi đỗ vào Tổng hợp Toán, học đến năm thứ hai thì nhập ngũ. Trinh sát pháo binh. Hy sinh ở Cánh Đồng Chum.

Bị khuất mất một phần vào vùng tối của bức tranh là gương mặt Đính, em trai anh Trung, Đính quấn chăn chiên, nằm cách hơi xa đống lửa, hai tay chống cằm. Khuôn mặt nó chẳng giống anh Trung chút nào. Má bầu, tai to, nhưng cằm nhọn hoắt và cái cổ thì gầy ngẩng. Tính nết Đính cũng khác hẳn anh, nó rất lành và quá sức là rụt rè. Mười một năm sau, Đính là một trong những người lính của đại đội đặc công đã tập kích vào sân bay Hòa Bình ngoại vi Buôn Ma Thuột, nổ súng mở màn cho chiến dịch vĩ đại mùa khô Bảy Lăm. Anh cùng hầu hết đồng đội đã hy sinh trước khi bộ binh và xe tăng ta kịp đánh tràn vào ứng cứu.

Anh Trung, người anh cả của Đính và của cả lũ chúng tôi, là nhân vật có vóc dáng và dung mạo được ánh lửa trong bức tranh đặc tả nhiều nhất. Anh ngồi xếp bằng, hai chân khoanh lại, lưng thẳng, ngực ưỡn ra, hai con chó vàng nằm hai bên, gác đầu lên đùi anh. Xưa nay tôi hiếm thấy ai cường tráng như Trung. Anh không cao, thậm chí hơi lùn, nhưng vai rộng lạ lùng, ngực nở căng, bụng thon chắc. Những bắp thịt cuồn cuộn nổi hằn lên dưới chiếc cáo dệt kim sọc xanh của học sinh trường hàng hải. Cái cổ anh ngắn và to bạnh đỡ lấy cái đầu to quá cỡ, xưa vẫn bị chị Giang trêu là như cái thùng nấu phở, trán dô, mũi tày và tẹt, gò má rộng, cằm vuông chằn chặn, tóc rễ tre, húi rất ngắn. Trên khuôn mặt mầu đồng hun lấp loáng ánh lửa hồng này, họa sĩ đã lược hết mọi dấu tích trận ẩu đả, nên không những không hề thoáng nét hung tợn mà cũng không cả vẻ ngang tàng ngỗ ngược. Đấy là dung mạo của một chàng trai đầy sức mạnh và lòng can đảm, tuy nhiên đang trầm tư và đang rất buồn, cặp mắt to, mơ mộng, long lanh như nước và vô cùng buồn bã của anh như đang muốn thốt lên một điều gì đó mà tiếng nói thông thường không đủ sức diễn đạt… Anh là liệt sĩ Kháng chiến chống Mỹ đầu tiên của cả ngôi nhà số bốn, và có lẽ của cả phố, không chừng cả thành phố. Gia nhập hải quân, anh hy sinh ngay trong năm Sáu Tư, ngoài khơi Hòn Mê, một ngày biến động, đầu Tháng Tám. Tin anh tử trận đồn về rất sớm song không hiểu sao báo tử chính thức lại rất muộn. Năm bảy mươi, khi anh Vinh “Pét” nhập ngũ, chị Giang vẫn còn đang một lòng đăm đắm chờ đợi ngày anh Trung của chị trở về. Anh Vinh kể với tôi thế trong cái đêm đơn vị tôi và đơn vị anh cùng ém trong cánh rừng già ven đường 18 đợi lệnh hiệp đồng tấn công Plây Cần. Vinh nói, nửa đùa nửa thật, rất gở: “Tao biết chắc Giang yêu một cách lưỡng lự, yêu cả tao cả Trung nhưng vì Trung đi lính trước nên Giang tưởng là chỉ yêu có mỗi Trung thôi. Bây giờ, nếu giấy báo tử của tao về trước giấy của Trung thì Giang sẽ nhận được ra là tình yêu của cô ấy thật sự dành cho ai”.

Trên bức tranh, chị Giang hiện ra trong khoảng dập dờn nhất của quầng sáng, nên hình ảnh chị vừa sinh động vừa hư ảo, mà có lẽ đấy là dụng ý của họa sĩ, bởi vì thực ra đêm ấy chị đâu ngồi đó bên bếp lửa với đám trẻ nhà số bốn. Họa sĩ không vẽ chị ngồi kề bên anh Trung. Chỉ có một thằng bé đang nép sát vào chị, và cả hai chị em đều ngồi hơi tách khỏi những nhân vật khác của bức tranh.

Chị Giang trong tranh mới mười bảy tuổi. Dưới ánh phản chiếu lung linh của ngọn đèn, gương mặt trái xoan trẻ măng, trắng hồng của chị mới xinh làm sao. Cặp môi mòng mọng hơi bậm lại, cái cổ cao trắng ngần. Chị ngồi, cúi đầu, hai tay khoanh trên đầu gối. Không nhìn thấy mắt, chị không ngước mắt lên, nhưng có thể thấy rõ đôi lông mày thanh tú, hai hàng mi rợp và như hơi ươn ướt. Vẻ mặt đượm buồn. Thằng bé ngồi bên chị, vóc người cao, chân dài diện giày da, bận áo ấm kiểu ngoại có viền lông, nom rõ là con nhà khá giả hơn hẳn những đứa khác trong tranh, nhưng tôi không thấy được khuôn mặt nó. Thằng bé ngồi nép sát vào chị, vòng tay ôm lấy eo lưng chị và đầu thì ngả hẳn lên bờ vai. Vì thế khuôn mặt nó chìm vào trong mái tóc dài buông xõa trên vai chị. Tôi chăm chú nhìn, và bất chợt giật mình. Người gai lên. Phải chăng thằng bé ấy là tôi? Thận trọng, cố không để bị cảm giác đó chi phối, tôi lại thật sát bức tranh, nhưng khi nhìn quá gần thì các chi tiết trên tranh lập tức rời ra thành những vệt riêng biệt, chỉ còn là những mảng màu nổi gờ lên cùng những vệt bút vẽ.

Tôi lùi lại, và khi đấy, từ một khoảng cách vừa phải, trước mắt tôi những mảng sơn dầu lại hợp vào thành đêm hôm ấy, thành những người anh em đã khuất của tôi, thành chị Giang và tôi. Đúng là tôi, cái thằng bé đang vùi mặt vào tóc chị. Tôi chưa từng ngồi như vậy bao giờ, chưa từng có cử chỉ ấy, nhưng mà tôi đã từng nhiều lần mơ thấy như thế. Làm sao, sức mạnh huyền bí và linh diệu nào đã khiến những giấc mơ cực độ thầm kín năm xưa hiện về lung linh trên mặt vải?

Gần trọn quãng đời trai trẻ của tôi không hề được hưởng tình yêu. Qua hết những năm vị thành niên cho đến ngày nhập ngũ, trải sáu năm chiến trường chẳng từng được thật sự gần gụi một người con gái nào. Hết chiến dịch này tiếp chiến dịch khác, mùa khô qua mùa mưa tới, sức lực, sinh khí đổ dốc xuống dọc những chặng đường hành quân và xuống những chiến hào, tình cảm dành trọn cho đồng đội. Nhưng thảng hoặc, vào buổi sớm mai nào đó, đất trời tự dưng ắng tiếng bom, thức dậy giữa rừng sâu không tiếng súng, nằm đung đưa trên võng, tôi thường thẫn thờ nhập thân vào một kỷ niệm chẳng phải của mình. Tôi trông thấy chính tôi, chứ không phải Trung, đang ghì xiết lấy chị Giang, khi thì giữa đông nghịt biển người dưới chân gò Đống Đa, khi thì trong ánh sáng lúc canh khuya của lửa bếp trước sân nhà. Sững sờ, tôi cảm được cặp vú của chị áp lún vào lồng ngực tôi và căng trĩu trong lòng bàn tay tôi. Một mình tôi góc rừng hoang mà tôi chạm được vào đôi môi của chị, hít thở được hương thơm của làn da và mái tóc chị. Lúc bấy giờ, tôi biết những cơn mê lú như vậy là tội lỗi và sẽ chỉ gây nên cho tôi những thương tổn tinh thần trầm trọng. Không muốn phải chịu đựng những đau đớn vô ích, do đó tôi đã cố cưỡng, song con người ta ai mà có thể đưa tay ra cản lại mộng mị?

Nhưng sau chiến tranh, khi mà cái sức tưởng tượng tội lỗi ấy không còn trong tôi nữa thì tôi lại hiểu rằng ra những tội lỗi trong mơ ngày đó chính là hình bóng của mối tình đầu không có thật của tôi. Và mặc dù rằng dù sao đi nữa thì cũng vẫn là tội lỗi, và mặc dù khốn khổ, mặc dù nực cười và mặc dù mong manh lúc mờ lúc tỏ nhưng mối tình đầu phải tuyệt đối vùi sâu chôn kỹ ấy cũng đã góp phần ánh sáng soi rọi tâm hồn tôi, giúp tôi vững tinh thần, và có lẽ một phần nhờ thế mà rốt cuộc tôi đã sống sót trở về. Và thậm chí mối tình đầu không hề có thật ấy vẫn còn tiếp tục là một trong những nguồn sáng giúp tôi từ sau ngày trở về biết yên lòng vui sống, biết vững tâm mà mạnh dạn vượt qua được những năm dài gian lao thời hậu chiến… - Tuần sau chị sẽ vào lại Sài Gòn. - Giang nói, thở dài. - Và chắc phải ở hẳn lại. Anh Vinh thì đã vào từ mấy năm rồi. Anh ấy thích Sài Gòn. Chị thì cứ dùng dằng. Lần này, anh ấy ra tối hậu thư, hoặc vào với chồng con, hoặc…

Chúng tôi đứng ngoài ban công. Buổi tối mùa xuân lạnh lẽo, lất phất mưa phùn. Ban công khá rộng, song chỉ để vài chậu cây.

- Bữa nào cậu qua mang cái gốc táo này sang bên nhà, - Giang chỉ một chậu cây to khuất trong góc tối. - Trước khi chặt cây táo dưới sân, Tấn nó cũng có lòng chiết cho chị một cành. Chẳng hy vọng gì, thế mà rồi sống nổi đấy. Đã đâm rễ đâm chồi ra được thế này. Cậu mang về, chăm nom một thời gian nữa trong chậu rồi thì trồng hẳn vào đất cho thành cây to như xưa. Với chị, táo ta vẫn là nhất. Một thời chuộng táo tây, nhưng Tết này, thiên hạ cũng quay về cả với táo ta rồi đấy…

Giang nói miên man. Giọng nhỏ nhẹ, buồn rầu. Ngoài ban công rất lạnh, nhưng chúng tôi không trở vào phòng. Càng về khuya càng lạnh, song tôi không nhận thấy thế. Lòng tôi ấm áp. Tôi đang ở bên Giang. Tôi có thể đứng mãi, đứng mãi thế này.

- Chị sẽ để lại căn phòng này cho Tấn, - Giang nói. - Nhà được ba anh em, cả ba anh em đều ra trận. Mà được mỗi cậu ấy trở về. Bức tranh chị cũng để lại. Gia đình chẳng giữ được bức ảnh nào của anh Trung. Hình anh ấy chỉ còn lưu lại duy nhất trong bức tranh thôi.

Thấy tôi châm thuốc, Giang hỏi:

- Cậu hút thuốc lá rồi đấy à?

Tôi bật cười. Cách đây ba lăm năm Giang cũng đã nhẹ nhàng trách cứ như thế khi phát hiện tôi núp dưới gậm cầu thang hút trộm thuốc của bố.

Trong bóng tối, gương mặt Giang lại trẻ như hồi nào… Và tôi cũng thế. Bởi vì thời gian càng nhích sâu vào trời khuya để đến với ngày mai thì chúng tôi càng về gần hơn với Hà Nội những đêm xưa, với Hà Nội trong vắt lúc không giờ. Về gần hơn với bạn bè một lứa bên trời, về gần hơn với tình yêu ban đầu, về gần hơn với tuổi thơ non dại. Sinh ra, lớn lên, rồi làm lụng, rồi chiến đấu và hy sinh cho thành phố này, thế hệ chúng tôi được hưởng phép mầu của nó, trở thành một thế hệ mãi mãi tuổi thanh xuân của một thành phố trẻ trung vĩnh hằng.

Hà Nội at Midnight

Last year, many people in my company had their houses built. The contractors tried their best to finish the construction in a timely fashion, so that new tenants could move in prior to Tết. For the tenants, moving into new homes with high ceilings, spacious rooms, and walls that separated their estates from the outside world meant embracing the modern age. But for me, no longer a young man, I was left with only reminders of a bygone era.

As typical for this time of year, it was humid but sunny for the entire month. According to the lunar calendar, there were only twenty-nine days in December. Nhật Tân cherry blossoms were blooming and a northeasterly wind had blown in prior to the day the Kitchen God went to Heaven. The weather would remain frigid until the next full moon. For the past several years, as many people recalled, the last cold snap had been during the Tết holiday of the Year of the Dragon 1964 and didn’t happen again until the Year of the Tiger 1998.

By some fortune, the new house I moved into was in the same neighborhood as the house where I spent my childhood. The old house was No. 4, and my current house is No. 102, located on opposite ends of the street. During my first Tết in the new house, the weather was reminiscent of the time I had spent Tết in the old one. Because I found myself associating more with that previous era, I felt like I hadn’t changed much even if my living situation did. I couldn’t sleep, I drank too much, I lost track of time. My mind often wandered. I wasn’t home much during the day, and I also went out at night.

This town, populated with trees in my youth, extended far into the distance. I remembered hearing the trolley bell as I watched it blaze through an intersection. Now, standing on the roof of a three-story house, I couldn’t see past the wall of the house next door. Back in those days, there were no houses in this part of town—only wide-open spaces for weeds to grow and for ghosts to wander. Now the land was gone, and in its place appeared tall buildings of concrete and tin-roofed tenements with glass windows. This was inevitable, perhaps. Thirty-four years had passed. Not too long ago, they made a documentary series about Hà Nội at the beginning of the Reform period, and the director, a distinguished artist, had taken his crew to a town in Bắc Ninh to make the film. The Hà Nội of the film, although inspired by the real setting, didn’t look quite like Hà Nội. The prewar spring of the Year of the Dragon 1964 had escaped everyone’s memory. No longing for that earlier time could bring it back. But someone strolling at night today, leaving the real world comfortably behind, could still escape into the old world. Crossing one side of the street into another, from the present to the past, was like traveling back through time. The Hà Nội of that earlier spring still lingered in the air and returned to mingle in this year’s spring festival, precisely at the stroke of midnight.

The winter frost and bitter cold seemed to seize the final week of December that same year. In the downtown area almost nobody wanted to leave their house after dark and go into the bone-chilling air. Only the wind blasted through as leaves tumbled beneath the streetlights. Occasionally, a few people cycled or walked along briskly. Even the evening trolley was almost empty—very few passengers rode in any of the cars.

In the dead of winter, in its tranquility, the rhythms of spring were returning to the city: someone clutching a branch of cherry blossoms, a person ferrying a pot of kumquat behind his bicycle, and buds were already appearing on limbs of barren bàng trees. At night, the streets were often empty, but inside the houses lining the main boulevards, one could hear footsteps shuffling and people’s voices, or see people busy cooking in their kitchens or cleaning their homes and ancestral altars. December had only twenty-nine days this year, so Tết came sooner, and everybody was in a hurry. Tonight was the 28th, and New Year’s Eve was tomorrow.

One evening years ago, Năm Tín, an artist from Cà Mau, took the last trolley home after attending a meeting at the Reunification Club with folks from his hometown. He got off the trolley at an intersection. The streetlamp’s low light gave it a yellowish color. Every household was so busy making preparations for Tết that no one was sleeping. Light coming from oversized windows illuminated the sidewalks and accompanying street. At the public water pump in front of house No. 3, some women were still busy with washing rice and dong leaves. Sounds of water running, buckets clanking. In an empty lot across from the sidewalk at the two-story house No. 4, there was an overflowing cauldron of boiling bánh chưng. Hot steam curled around its lid. The fire under the barrel-shaped cauldron was small, but coals spread out over the ground were fiery hot. The children attending the fire moved their mat some distance away because the heat made them sweat. They played cards, leaving behind a few stragglers to watch the fire. A piece of wood was added to the blaze, making the fire rise higher, brightening their faces and hair, and projecting black shadows against the opposite wall.

Năm Tín was tipsy. With an overstuffed leather bag in his hand, he staggered across the street into the yard of house No. 4. Seeing him, two dogs resting their chins on a sturdy man’s thigh quickly jumped up and began barking loudly.

“John and Ken!” the brawny owner of the dogs called out as he stoked the fire. “Knock it off! Don’t you recognize Mr. Năm?”

“What’s with your vicious mutts today?” Năm Tín said, sitting down and rubbing his chilly, knobby hands by the fire.

The children greeted Năm Tín excitedly. They left their playing cards on the mat and surrounded him.

“This is for me,” Năm Tín teased as he opened his leather bag and took out a bottle of Lúa Mới rice wine. “As for you children…” He held out a roll of firecrackers wrapped in pink paper that showed a fairy standing on a cloud, and then took out an oversized package emblazoned with Santa Claus wearing a red hat. “We’re doing a low-key Tết celebration this year,” he went on, “and the Cà Mau People’s Association didn’t give out a lot of gifts like they usually do every year.” He talked as though elucidating some finer point to the kids. “But this is a special treat—candy made in the Soviet Union. The best candy.”

“Mr. Năm, you’re spoiling the kids,” the broad-shouldered man said. “If you give them gifts now, what’s left for Tết?” Then, slapping his own thigh, he shouted at the kids, “Behave!”

“It’s okay, Trung,” Năm Tín said, squeezing the brawny man’s shoulder. “No need to get so worked up. But I mean, look at you. Your face looks all messed up. What happened? Did you go a few rounds with somebody in the ring or something?”

“Yes—with hairy Pec,” a kid answered.

“They fought because of Giao,” another kid added.

“Shut up, you little bastards!” Trung sneered. Only his left eye darted around, as his other eye was bruised and swollen shut above his cut lips. His cheeks were scraped raw.

“Where’s Giao?” Năm Tín asked, casting his eyes around.

“I think she’s sitting over there crying,” another kid, one with close-cropped hair, replied. He pointed toward the balcony on the second floor of the house.

“Why?”

“She’s mad at Trung.”

“Dear Lord! Bình, you go tell your sister to come down here and talk to me. It’s almost the New Year, and we should all be getting along.”

Although Năm Tín was an eccentric figure, living in his apartment and not socializing much, he was a good friend of the people living in house No. 4. He often talked only when he had been drinking. But the kids adored him and came by to see him in his house. For example, a few years ago, in the freezing fog of an early morning, they had discovered him lying unconscious and reeking of alcohol in the front yard. They carried him inside, poured a mixture of warm ginger and water into his mouth, and rubbed medicated oil on his body. Afterward, they covered him up with a blanket. When the ambulance came, he had already regained consciousness. Since then, they often visited him in his apartment. They helped him with house chores, carried buckets of water from the public water pump to his apartment, and cleaned up his messy room. Because of this, he pampered them in return. His affection for the children had deepened over the last fifteen years, after military forces from South Việt Nam regrouped in the North. He let them play with his paintings, his pigments, and sketches. He mostly kept to himself and rarely talked about his hometown, but through his paintings, he showed these Hanoian kids his hometown Cà Mau, mothers, women, and children of the revolutionary South, as well as the soldiers of his platoon from 1945 to 1954, which formed part of Battalion 307.

Every year, the five households residing in house No. 4 would prepare for Tết together. The tradition was kept since the day Tá, a truck driver, died. He had a whole litter of children and struggled the most financially of all the families, but he was also the one who made sure everybody living in the house enjoyed Tết. He drove a truck for the Ministry of Forestry and would travel to the Northwest regions. He was never home, except on Tết. Whenever his mud-stained truck pulled up in front of the house and honked noisily, the kids would run out to help him unload firewood, chicken cages, and sacks of both fresh and dehydrated food. Because of him, everybody in the house had enough food to eat during Tết. Unfortunately, Tá had an accident while driving on Pha Đin Pass and died in 1961 during the flood season.

Three families lived downstairs, two upstairs, and everybody struggled to get by. The Tá family and the Thái family, who lived downstairs, had been materially well-off at some point. But then Mr. Thái’s life veered off course and he abandoned his wife and children. He took all the money he and his wife had been saving over the years and eloped with another woman and disappeared to Vinh. Their eldest son had to drop out of college. Cư, who also lived downstairs, was once a clerk for the electric company, but he was found guilty of embezzlement and put in jail.

Giao and Bình lived with their grandfather in the room above Mrs. Thái’s. Their parents died when the children were very young. This event made their lives miserable. Their sick grandfather was in his seventies, so whether they could enjoy Tết or not depended on his health. Even Professor Xứng’s household wasn’t ideal. He made a lot of money and his family occupied two big rooms on the second floor. He didn’t have many children, but his wife was always sick and she still had to take care of the baby. Their oldest son was in the seventh grade, the youngest just an infant. Their maid had left a month earlier to spend Tết with her family.

Because the adults weren’t physically equipped to organize Tết, it was left up to their children. Most of the kids were teenage boys, except for Giao and Trung, the latter being Mrs. Thái’s son. So it was up to Giao to handle everything. Her shopping for Tết began at the end of November, and every now and then a few kids gave her a hand after school. She waited in line at state-owned shops from early morning to evening, and it wasn’t until the final week prior to Tết that she was able to purchase ingredients like sticky rice and flour, mung beans and bamboo shoots, along with tea, cigarettes, and sweets. But that wasn’t the end of it—she had to wait in line again to buy fish sauce, pork, and dong leaves to make bánh chưng. This year she made sixty bánh chưng all by herself. Trung, on the other hand, was in charge of buying the best firewood. He used a sturdy wheelbarrow to transport the wood from Phà Đen to the house and then would spend all afternoon chopping it.

All the preparations took place in the yard. Despite the cold weather, Trung was shirtless and sweaty as he split the firewood with an axe. The other kids were eager to do whatever Trung and Giao asked them, because Tết was a time when they could wear new clothes, eat good food, and play. Next to the public water pump, Giao sat on a bamboo bed covered with plastic and busied herself with wrapping bánh chưng in dong leaves. She rolled her sleeves up past her elbows. Her ivory hands and arms were flecked with rice grains and mung beans. She didn’t wrap bánh chưng fast, but her hands moved dexterously, as though she were using a mold. The kids gathered around the bamboo bed to watch her, and then they counted aloud how many she had made. After she had made sixty, she would use the leftover ingredients to make a smaller batch for them.

Earlier that afternoon, when everything was on schedule and almost finished, Vinh from house No. 7 entered the yard and greeted everyone. Vinh’s nickname was Pechorin, “a hero of our time,” but he was known mostly as Pec, because even though he was young, he had hairy forearms and a full beard.

Only Giao glanced up and acknowledged Pec. Trung said nothing. He clenched his teeth as wood splinters flew all around him. The kids took Trung’s side, so they turned their attention to him. The dogs, John and Ken, jumped down from the porch, barked, and rushed toward Pec, even though Giao ordered them not to. Pec stomped his foot on the ground and the dogs scurried away. The kids also scattered. Pec strolled up to Giao. He was wearing a Czech leather jacket, a pair of corduroy pants, and patent leather shoes. He was an imposing figure, athletic, with neatly cropped hair combed back. His nose was rigid, his lips were full, and he sported a beard. His parents owned a jewelry shop, which meant they didn’t have to worry about money much, though Pec didn’t mooch off them. He was currently an apprentice in Mr. Tạ Duy Hiển’s circus. Pec was considered the most eligible bachelor in town.

“Giao, you’re so good at making bánh chưng. They are perfectly square,” Pec complimented. He picked up a pair of her bánh chưng and added, “Maybe you can come to my house next year and make some for us.”

Pec was a sociable person, neighborly, so he was well liked by everyone in the neighborhood—with the exception of the boys living in the house. On the afternoon he visited Giao, he had no intention of provoking Trung. In fact, Pec was allowed to spend time with her. Everybody knew that Pec’s parents had consulted with Giao’s grandfather. Although Pec and Giao were not yet engaged, both families had allowed their children to get to know each other. She didn’t know what her grandfather thought about him, but she found him charming and affable herself.

Pec took out two colorful invitations folded inside his pocket and showed them to Giao. It was the 28th of December, and the Tân Cương artists were having their opening night performance later. The event was free, but theatergoers needed a formal invitation.

“We’ve got front row seats for seven o’clock,” he said. “Please get your work done soon so you have time to get ready. You may need to dress up, since it’ll be at the Opera House. I’ll pick you up around six.”

Trung, holding an axe, started to feel provoked. He walked toward Giao while ignoring Pec and growled, “Theater? You’ve still got all this rice here that you haven’t even finished washing yet. When can we cook bánh chưng?”

“It’s all done. I made sixty bánh chưng,” she said. “All you need to do is put them in the pot. Why are you so worried? It’s still early.”

“Early, huh? There’s tons of work left. If you keep talking to this guy, it’ll be midnight before we’re done. You’ll end up chatting with him until morning.”

“She’s been slaving away and needs time off, too,” Pec interrupted. “It’s Tết. Don’t be so bossy!”

Trung said nothing. Then, suddenly, he hurled the axe and lodged it in the ground right next to Pec’s feet. Startled, Pec sprang back and nearly fell over. Giao was appalled and left speechless. Nobody else said a word.

“Get out of here, you spoiled bastard!” Trung said. “If you keep bothering her, you’ll be spending Tết in the hospital!”

Pec became livid. His voice crackled with anger. “You’re acting hysterical. I haven’t done anything to you. Why are you yelling at me?”

“I’ll teach you a lesson,” Trung said, suddenly taking a swing at Pec.

Pec dodged the punch by stepping to one side. He thumped Trung on the chest. “Knock it off, Trung,” he warned. “You don’t want this.”

Pec played all kinds of sports, but he was especially good at box-ing. He laughed at Trung’s attempt to hit him. Even if Trung was strong, he wasn’t an experienced fighter. Pec then threw a punch at Trung, hitting him in the mouth, knocking him over. Trung, who was shirtless, was now covered in filth as he struggled to get back on his feet. He was drenched in sweat and bleeding. Pec didn’t follow through with another blow. Instead, he unzipped his leather jacket, tossed it aside, and rolled up his shirtsleeves. Trung, gathering all his courage and strength, clenched his teeth and, with a head as hard as a coconut, head-butted Pec right in the stomach. Pec fell over onto the bamboo bench. Trung lunged forward and pinned his knees on Pec’s chest. Biting his bottom lip, he started bashing Pec in the face. Nobody uttered a word during the bloody fight.

One of the kids helped lift Giao to her feet. Color drained from her face as she begged for the fighting to stop, but nobody seemed to pay her any attention. The fight only intensified.

“Please stop! Oh, God, stop fighting!” she yelled, jerking her hand away from the kid who had helped her up. Finally, she broke up the fight by yanking on Trung’s hair, forcing him to take his hands off Pec.

The fight lasted only a few minutes. Trung, taking shallow breaths, stood up. His face was streaked with blood. One of his eyes was swollen shut. The other eye was completely red. He clenched his fists and gnashed his teeth, wanting to murder Giao.

“You’re so terrible,” she said, choking back her words. She burst into tears and ran back into the house.

But Trung didn’t take out his anger on Giao. He put more bánh chưng into the pot and stoked the fire. The kids went back to playing cards to pass the time. Everyone seemed settled except for Giao; she refused to come down to hang out with the others. Without her, there would be no laughter or festive stories, no apples or baked corn. Without her presence, Trung lost his interest in most everything and sat there unmoving like a rock. Since the fight, he talked only briefly with a local policeman working the night shift and a street sweeper who stopped by the fire to warm up. By the time Năm Tin came around, the youngest kids had dozed off and only the older ones sat attending the fire with Trung.

Bình, Giao’s younger brother, ran upstairs and tried to convince her to come back down, but she was determined not to go downstairs and confront Trung again. She told Bình to take some drinking glasses and a plate of roasted squid to Năm Tín. After that, he would need to come back to carry down blankets, a basket of apples, and ten ears of corn to the other kids.

"Trung, you can drink with me,” Năm Tin said, pouring wine into two glasses. “You’re a man now.”

Trung shook his head. The old man shrugged and downed the glass quickly. “Men are like tigers, you know,” he said. “We don’t hold grudges. You’ll soon be leaving for military service, so make peace with Pec.”

Then he filled his glass with more wine and emptied it again. He gave the plate of what was left of the roasted squid to the kids and polished off both bottles of Lúa Mới wine.

Trung said nothing. After their bellies were full, the kids fell asleep on the mat, one after another. Eventually, the dogs lay down beside them. The water in the pot boiled unattended as the fire hissed and crackled. Before long, the streets and houses fell into darkness. The sky clouded over and the temperature dropped. Although the wind had stopped blowing some time ago, a frigid cold filled the air. Dawn was coming soon.

“I have to go,” Năm Tín finally said after many hours of silence. He picked up his empty leather bag and staggered to his feet. Trung tried to assist him.

“No need,” he declined. “I’m not drunk. Really, I’m not.” The old man, smelling strongly of booze, embraced Trung. “You’re leaving on the fifth, aren’t you? Well, I hope you have a safe time. I’ve got to go now, Trung. I need to get home and set up a shrine for my parents, my wife, and my children for Tết.” Then he started to choke up and his eyes were wet. His whole body quaked as though struggling for air. “Trung, they killed all of my family. They killed everybody… my Youngest daughter Út, my sons Hai and Ba. All three were killed at the same time. Then they killed my mother, my father. They killed my wife. What savage animals! Two years ago now. I attended a meeting yesterday afternoon, you know, and a man from my hometown who just got here told me the news.”

He sobbed as he told Trung about the tragedy. Then he pulled himself away from Trung and, using the wall, slumped toward the other end of town.

Early the next morning, Giao came downstairs and brought extra blankets for the kids. She told Trung to go to his room and get some sleep. She would tend the fire for him. He sat there and said nothing. Although she was upset and was about to walk back inside, she sat down by the fire instead, away from him.

A kid who had his blanket taken away woke up. He heard Trung say something about Năm Tín. Then he heard Giao crying. The kid craned his neck to eavesdrop in the darkness. The whole scene fell into silence again. He watched the young couple sitting next to the fire, holding each other and crying. Her flowing hair was untied, her sweater unbuttoned. He saw Trung kiss her neck and embrace her. He could feel the heat coming from the fire as he exhaled into the cold, early morning air. The kid couldn’t understand why she always hung out with Pec, especially that following day, on New Year’s Eve, and later during Tết when he took Giao on his burgundy Piaggio bicycle to music performances and fairs. Pec’s face was left bruised after the fight, but he lost none of his charming looks.

In the early afternoon on the fifth day after Tết, a farewell ceremony for newly enlisted soldiers took place at the bottom of Đống Đa Hillock. It was said that for the past ten years, ever since peace was largely restored, Hà Nội had never experienced such a huge number of volunteers like this. Hundreds were ready to join the war, and thousands of people came to say goodbye. As the sea of people rose and sang the national anthem, a Tây Sơn flag! and another flag with a gold star were slowly raised up together in front of the Trung Liệt Memorial. A first lieutenant read aloud the names of the enlisted men. Each volunteer present said “Here” when his name was called. The officer read names until he lost his voice, and even after that the list still had not been exhausted. Whenever Trung heard a familiar name, he perked up and surveyed the crowd. But this was a massive group, so there was no way he could find people he recognized.

Trung looked around. It seemed like all the girls in town were here, and they looked more beautiful than he had remembered. They were hugging each other and talking cheerfully as they stood in small clusters next to the men. After the recruitment ceremony, he thought, the town would probably be left with only young women and children. Trung’s mother and three younger siblings, as well as all the kids living in house No. 4, also came to say goodbye to him. It was already late in the afternoon, but the event seemed to have no end in sight. Later on, Trung told his siblings to take their mother home, but she refused to leave. She had an anemic look about her, fumbling as she tried to latch tightly onto Trung’s hand. Choking back tears, she told him repeatedly to take care of himself, but couldn’t find the right words to express her raw feelings.

“Mom, quit acting like this,” he said, feeling embarrassed. “Everybody’s staring at us.” Then he turned to the children and said, “You guys take care of her for me, okay? Try to keep her from crying at home later. Help her with the chores. I’ll be gone for three years, but I’m allowed to take leave. Make sure you guys take care of our house and that apple tree I planted. By the time I come back, the tree, hopefully, should be as tall as the balcony.”

Although Trung put on a cheerful face while talking, he seemed heartbroken as he looked around. The kids loved him but that didn’t make him feel any better. Only Giao did, but her grandfather had been hospitalized the night before, so she was there looking after him. On top of that, Pec was always by her side.

The cold spring air revealed a blue sky. After the speeches, musical performances, and poetry recitals, the new recruits boarded buses. Nearly twenty buses snaked along one side of the square. Their engines started up and noisy honking followed. Trung embraced his mother and his siblings, along with each of the children living in the building, for the last time.

“Please don’t cry,” Trung said to them. “Don’t cry, so I can leave. Just take my mom home.” Then he said to her, “Mom, I have to leave now. Please go home.”

Trung threw his rucksack through the bus window and climbed aboard the bus. A huge crowd swelled around the bus, but somehow Mrs. Thái, his mother, was able to push her way through and stood directly beneath his window.

“Mom!” Trung reached out for her hands awkwardly, but their fingers slipped apart as other people closed in.

“Is that you, Toàn? Hey, Toàn!” his mother sobbed. He was Trung’s friend and lived in house No. 36, on the same block. “Toàn, please look after him for me,” his mother said.

The bus lurched forward. People in the crowd called out to their loved ones, cheered them on, and even wept. Suddenly, out in the middle of the mob, Trung saw Giao.

Trung somehow, miraculously, forced his way off the bus. “Giao!” he said. “Over here, I’m over here!”

“Where are you?” she shouted as she pushed her way through the mass of bodies. “Where are you?”

Giao slipped several times, unable to see him, or anything else. She started to feel dizzy. But, finally spotting Trung, she caught her breath and ran toward him. He pushed people aside and threw his arms tightly around her.

Unlike at previous farewell ceremonies, most of the volunteers this time were around Trung’s age. They were still very young, so it was rare to see wives saying goodbye to husbands; but there were several young lovers like Trung and Giao. Although what they felt could be called love-inhibited and modest as they were-it was an innocent kind of love. Not until this very moment of separation did they dare express their affections.

Giao’s hair spilled down her back. She leaned her body into Trung and wrapped her arms around his neck, embracing him in front of everyone. He held her tightly, his large hands reaching beneath her sweater. People heaved a sympathetic sigh, but averted their eyes. All the buses started to move again. Singing could be heard from the bus in front, booming throughout town:

Those who cross Cửu Long Giang River see its swift waters,
Those who hear of war know Battalion 307,
On the day we men celebrate our leaving,
We give allegiance to the red flag with a yellow star…

In the street, Trung was running after the last bus. Several hands extended out the back door to help pull him aboard. Giao ran behind frantically, as fast as she could. She lost her footing and fell on the slippery ground.

Hà Nội girls may be poor,
But are the most enchanting fairies,
With ivory skin, crimson lips,
Charcoal eyes, and willowy eyelashes…

Once, I heard a song with these lines somewhere, but can’t remember when. I was just a little boy living in house No. 4 on that Memorial Day afternoon when I said goodbye to Trung at the bottom of Đống Đa Hillock; I was the same boy who helped Giao to her feet. She was sobbing and trembling violently in my arms. On our way back home, I calmly consoled her. She held her face as she walked, not caring that people were staring. From what I remember since that day, nobody ever looked as fragile or wretched as she did then.

Months and years afterward, I attended many events like that, but I never forgot that time when my friends and I said goodbye to Trung. Five years later, I also enlisted and joined the war. It was mostly peaceful by the beginning of 1964, but young men were still expected to perform military service. Among the middle class, even our wise elders couldn’t tell what the future held, whereas I was just a thirteen-year-old boy. As I now gaze back toward that time, I don’t remember imagining how anything could be different.

The truth of it was, during that particularly tranquil spring day when Trung left, my heart was troubled as I stood at the bottom of Đống Đa Hillock. I wasn’t the only one who felt this way, and I sensed it in the people around me too, my friends and other strangers, who had until now sought a peaceful existence. But we could feel the waves of a new age crashing on the shores of our Fatherland—a modern era characterized by extraordinary events and sorrow of historic proportions. It was to be our age of struggle, our age of revolution, our age of endless heartbreak and unspeakable loss; but it was also to be our age of everlasting heroism, of survival-our age of love and resolute courage.

The artist Năm Tín, Trung, his mother, Giao, and the kind and fragile-hearted women living in house No. 4, as well as my feelings about the fate of my countrymen, inspired in me a deep, lasting change, even before I had entered adulthood. For me, my happy and beautiful childhood ended on that gorgeous spring afternoon of 1964.

A week after Tết, my father received a raise and we were offered a better place to live. We moved to the downtown area of the city. In August of that year, the Americans bombed the North. Everybody in my school evacuated to the countryside. We didn’t have a chance to visit Hà Nội often, and even when we did, we didn’t stay long. Then I joined the military and headed South without knowing the day of my return. Such was my destiny back then.

Returning to Hà Nội after the war ended, I saw only reminders of that previous struggle all around me; the wind had, in that time, blown the prewar years away. Now and then I passed by the old part of town and my old house, and at first I didn’t care to look at it, feeling only a detachment and aloofness. Later, I felt deep ambivalence whenever I passed by the old house. The house had not changed over the years, but appeared only slightly more battered, with its facade full of cracks and paint peeling off its walls. It was squalid-looking, full of rattling sounds, and overcrowded, as there were far too many new tenants living there. But I was glad to see Trung’s apple tree, the one he had planted before enlisting. It had grown taller than the balcony and cast a long shadow over the yard. The tree itself looked very old, even if nobody would eat the kind of apples it produced these days.

This year, during Tết, as I walked from my new house to house No. 4, I noticed that the apple tree was gone. Tấn, Trung’s youngest brother and a veteran of the border wars, had been allowed by the municipal authorities to enlarge his property into the yard. Although he had no desire to chop down the tree, he felt an obligation to do it.

“During the war,” Tấn told me sadly, “we dug public trenches in the yard, so we were able to keep the tree. But now I’ve got to let it go. It makes me sad, but what can I do?”

When I asked about Giao, he replied, “She and her husband left for Sài Gòn to spend Tết there. They’ll most likely move to the South for good very soon.”

A month after Tết, in February, I went to visit Giao, and by a stroke of good fortune she was home. Previously, she was always on business trips when I tried to see her. The last time we met face-to-face was thirty-four years ago. She was still living in the same room with the balcony facing the street. The walls were coated in lime plaster and blue curtains hung in the windows. The ancestral altar inside had three perpetually burning incense sticks. When she opened the door to let me in, the light had not yet been turned on, so the red sunset engulfed the room. Giao was the same person I had known in my youth. She recognized me and called me by my nickname. It broke my heart to see her.

Giao sat down next to me and wept for a long time. I was also crying, and my eyes felt as though pricked by pins. Outside, the cityscape was all lit up. We held each other’s hand and sat in that dark room, letting a serene feeling overcome us, as we cherished the memories of our youth. Our voices trembled as we recounted to each other our lives since then. Her life and my life were not so different from those of our countrymen for the past several years, but when we spoke about the distant past, our hearts filled with sorrow. In any case, we were able to temper our mood and keep our composure.

“Do you remember Mr. Năm, the artist?” she asked.

“Of course. But I haven’t seen him in decades. How’s he doing?”

“He died back in 1990, in his hometown in the South. He headed south in 1971, and I never saw him again. He visited Hà Nội not long before he passed away, but I wasn’t home. He met Vinh, my husband, and left me a gift...”

“Vinh?” I shuddered. “How come your husband is also named Vinh?”

Back in our younger days, the tough-looking Pec, whose real name was Vinh, was infatuated with Giao. He later died in the cruel, dry season of 1972. He lost his life in front of my eyes. My squad had followed his T54 tank and attacked the Plây Cần military base. Just as we entered the base and were about to pull out our bayonets and jump off the tank, two Mecar M72 LAW anti-tank rockets hit us and killed almost everybody. The tank caught on fire.

“I’ve asked other artists about him, but nobody remembers him,” Giao said of Năm Tín, “as he wasn’t in their league.” She reached up and turned on the overhead light. The single lightbulb glowed softly, like a candle. She said in a low voice, “Come here,” and stood up from her chair and gently took my hand. She led me to the curtained window, where an oil painting hung on the wall in a brown, wooden frame.

My knees went weak as I approached the painting. I felt something rise from the pit of my heart. Looking at it, I was at a loss for words. The painting depicted seven of us, the children of house No. 4, sitting by the fire on the night of the 28th prior to the Tết of the Year of the Dragon. There was a powerful mood to the scene. The red aura of the dancing flames brightened our faces. Radiating outward, the flames seemed to struggle against the night. The sky that night, I remember, was not dark but rather clear. Above us were the heavens in all their magnificence and solemnity, a dark sky belonging to an extraordinary time that nobody could reclaim. In the painting, I saw the familiar scene of my youth, of a house diminished over time.

Those familiar faces buoyed by the fire gave the painting a soul. The artist’s hypnotic strokes filled me with sorrow-a sorrow that transported me back to the past and burrowed itself deep into my heart. A new truth also dawned on me, something I was not aware of until this moment because of my callousness and poor judgment. Of portrayed in the painting, back when we were just foolish the seven children sitting around a fire, I was the only one to live; everyone else was now dead.

Last year, on Ancestors’ Day in March, I passed through Gio Linh and stopped to visit the Trường Sơn Fallen Soldiers’ Cemetery. I found the name of Giao’s brother, Bình, among thousands of head-stones, in an area where they buried soldiers from Hà Nội. Giao and her husband had wanted to bring Bình’s remains back to the capital, but one night she had a dream in which her brother told her he wanted to lie along with his comrades in the red-soiled le forest where they had fought. In the painting, he is just ten years old and looks somewhat like Giao with his smooth skin and bewitching face. He is hollow-cheeked, his hair curly, and his lips sulky as he sits with his arms wrapped around his knees.

Sitting next to Bình is Phái, who was twelve, with a buzz cut that reveals a misshapen head hatched with scars. His high cheekbones expose a wide mouth, his pallid face full of pockmarks. In the painting, he frowns with furrowed eyebrows. He was the eldest son of Tá, the truck driver. Although Phái wore shabby clothes and was the least attractive among us boys, he remained kind and forgiving. Both of us had joined the military in 1969. I was an infantryman, and he became an anti-aircraft gunner. He was stationed in Hà Nội and died there, in the twelve-day battle against B-52 bombers.

Sơn, Cư’s son, was the only one in his family to go to college, although his father was in prison. In the painting, he is just a short kid, only a year older than me, and sits cross-legged. He has disheveled hair and is scrawny as a runt. There is an unpolished look about him, but his round, moonlike eyes reveal the intelligence beneath. He sits next to the cauldron of boiling bánh chưng and looks lost in his own thoughts, as though trying to do sums in his head. Sơn passed his college entrance exams and became a math major, but he dropped out of college his sophomore year and enlisted instead. He became an artilleryman and died at Chum Field.

In a shadowy corner of the painting is Đính, Trung’s younger brother. A blanket is wrapped around his body and he sits a good distance from the fire. With his hands propping up his chin, he doesn’t resemble his brother at all. Đính’s cheeks have retained their baby fat. His ears are too large, his jowls pointy, and his neck too narrow for his head. His demeanor, as well, makes him different from his brother. Unlike his brother, Dính had been an unassertive boy, but eleven years later, in the dry season of 1975, he was among the soldiers in the commando company that attacked the Hòa Bình Airport on the outskirts of Buôn Mê Thuột, which paved the way for the Great Revolution. He perished along with most of his comrades before our infantrymen and tanks could arrive to help.

Trung, Đính’s brother, is drawn most clearly in the painting. He sits cross-legged in the erect posture of a monk, his chest puffing out a little. Two yellow dogs flank him and rest their heads on his thighs. I have rarely met a man since then who was as strong and resilient as Trung. He looks short in the painting, but also is portrayed as barrel-chested and with abs like a washboard. His broad shoulders and chiseled physique bulge from under his blue Maritime shirt. He has a high forehead and a flattened nose; his cheekbones jut out, revealing an angular chin; his stumpy neck makes his oversized head appear even larger beneath his close-cropped hair. The firelight turns his skin bronze. Giao used to tease him, calling him Kettle Boy.

The artist did not portray Trung’s swollen face and belligerent character. Indeed, he comes across as a young man full of conviction and untapped potential. But in the painting, he looks deeply contemplative. In his wide-open eyes there is a preoccupation with some kind of otherworldliness, a deep sadness, as though wanting to speak something unspeakable. Trung was the first anti-American soldier from house No. 4 to lose his life, most likely the first in his neighborhood if not the whole city. He joined the marines and died at sea on a stormy day in early August 1964, in Hòn Mê. The news of his death came to town long before his official death notification. In 1970, when Pec joined the military, Giao was still waiting patiently for Trung’s return. Pec had told me about it on the night our unit were stationed in an old forest by Highway 18, awaiting our orders to attack Plây Cần.

“I know Giao is torn by love,” he had said, only half-jokingly. “She loves both Trung and me paradoxically, but Trung enlisted first, so she thinks she loves him more. But if my death notification letter arrives before Trung’s, she will realize where her love actually lies.”

In the painting, Giao sits in the light of the dancing fire, an image as spirited as it is mysterious. The artist included her in the painting, though she didn’t join the kids in attending the fire that night. The artist chose not to paint her sitting beside Trung but next to another boy instead, their bodies folded together, the pair sitting distant from the other subjects in the painting.

Giao, in the painting, is seventeen. Haloed by the light’s soft glow, her rosy, oval face blooms with beauty. She bites her bottom lip slightly; her swan-like neck pale as ivory. She sits with her head bowed, her arms around her knees. With her head down it’s impossible to see her eyes, but her eyebrows unveil dewy lashes. Giao looks inconsolable in the painting. The boy sitting next to her is tall with spidery legs, and he wears leather shoes and a fur-lined coat. He obviously comes from a better family, economically, than the other kids in the painting. His face is inconspicuous, his body leaning against hers, and his arms embracing her by the waist. He has his head resting on her shoulder with his face buried in her long, angelic hair. I remember looking at him earnestly and feeling a chill. Was it me? Carefully, that evening at Giao’s residence, I approached the canvas, trying to control my emotions. But as I examined the painting more closely, all the details of the scene became broad strokes, and all I could see were splotches of color and the hand of the artist.

I stepped back, and standing at a good distance from the artwork, the painterly slashes and pigments and patches of color coalesced, revealing to me all my fellow comrades who had died, as well as me and Giao. I was the one who had buried my head in her hair that night. I had never sat like that before and never acted that way since, but I know I had dreamed about it many times. What kind of mysterious power causes such hidden memories to materialize in this painting before my eyes?

I enjoyed no romantic love throughout my younger years. As a teenager until the day I enlisted, then during my six years in the battlefield, I was never intimate with a woman. Campaign after campaign, in dry season after wet, all my energy was invested in marches, fighting in the trenches, and utter devotion to my comrades. But sometimes, in the early morning, when there was no bombing or artillery fire, I would wake up in the forest and find myself swinging in my hammock, drowned in a memory that wasn’t mine. In this other phantasmagorical world of my own invention, I had seen myself, and not Trung, embracing Giao firmly in the midst of that massive crowd at the bottom of Đống Đa Hillock, or by the fire in the yard of our house. In some corner of that forest, speechless, I had dreamed about her brushing up against my chest as my hands reached out for her rounded breasts, and imagined kissing her lips and smelling the perfume of her body and the scent of her hair. But I knew that they were only forbidden fantasies that would eventually crush my soul. I didn’t want to suffer any further heartache, but are we not mortal, and if so, how do we control our desires?

After the war ended, when those sinful fantasies were gone, I realized that my sin had to do with my first love; even if that love had never existed in the real world, it was a sin nevertheless. I was foolish and naive, but in that imaginary first love, which I had buried deep in my heart, I was encouraged by its uplifting promise. It was why, I believe, I had survived the war and returned from it safely. Even more so, that illusory first love became a source of hope that helped

me in conducting my life after I returned from the war, to live courageously, happily, and overcome those long years of struggle in the postwar period.

Back in the room with the painting on that night, Giao had sighed and said, “Next week, I’m going back to Sài Gòn, probably for good. My husband has moved there and likes it. I was unsure, but he’s very adamant that I either move there and join him and our children, or...”

We stood on the spacious balcony surrounded by a few potted flowers. The spring air was chilly and a light rain fell.

“Please take part of the apple tree home with you when you have time,” Giao said, pointing to what was left of the tree in a shady corner of the yard. “Before Tấn chopped down the tree, he took off a cutting for me. I didn’t expect it to live, but it’s growing now. See its roots? If you want, you can take the cutting home with you and put it in a pot. Take care of it. Then, after a while, you can plant it in the ground so that it grows to full maturity. For me, I love Vietnamese apples. People used to prefer imported Western apples, but for Tết this year, they want Vietnamese apples.”

Giao talked in a wistful, soothing voice. It was getting very cold outside on the balcony, but neither of us wanted to go back inside. As night encroached, the temperature dropped even more, but I felt no chill at all. Instead, a kind of warmth radiated from deep inside my body. Standing right next to Giao, I thought I could stand there forever.

“I will leave this room to Tấn,” she said. “His family had three brothers. All of them went to war, but Tấn was the only one to return alive. I’ll leave him the painting, too. His family doesn’t have any photos of Trung, and this painting is the only one I know with him in it.” Seeing me light a cigarette, Giao asked, “Are you a smoker now?”

I laughed. Thirty-five years ago, she had coyly reprimanded me for smoking when she caught me hiding under the stairwell with one of my father’s cigarettes.

In that dark room, she looked more youthful than ever, and I felt it, too. As the day ended and with another about to begin, at exactly the stroke of midnight, we were transported back to the Hà Nội of our youth and to our friends-the ones who were now already dead. We were brought back to our innocent childhood, our first inkling of love. Our generation was born, came of age, worked, and fought in the war. We had sacrificed for our city, and we were beneficiaries of its miracles. We have become, since then, a generation forever trapped by our innocence, in a young and unchanging city.

Gió dại

Kìa! Nghe thấy không, hình như là Diệu Nương đấy!

Nhiều tháng, và không chừng nhiều năm rồi đã trôi qua, Diệu Nương, cô gái ấy đã bị bắn chết từ những bao giờ vậy mà vào mỗi buổi mai, trước khi bắt sang một ngày mới, ở làng Diêm người ta vẫn mơ hồ ngái ngủ bảo với nhau thế. Như có thể nghe được quá khứ, như có thể thu được hồi thanh của thời gian vậy.

“Ta rong chơi giữa đời… ới a… biết đâu nguồn cội.

Em xin làm bến đợi mà chân anh ghé qua…”

Khi đó là giờ của rạng đông yên tĩnh với ngôi sao Mai miền thảo nguyên to lạ lùng tỏa ánh biếc trên tầng không quang mây đang tảng sáng. Vào giờ đó mặt trời chưa mọc nhưng trên đồng cỏ bóng tối và sương mù đang nhẹ tách khỏi nhau, đang tan. Trong mông lung, làng mờ hiện.

Một vệt đường 14. Những cụm nhà mái tôn. Một ngôi nhà thờ.

Eo óc tiếng gà gáy da diết và cọt kẹt tiếng những con ròng rọc quay trên các miệng giếng trong làng. Làng Diêm thức giấc, buồn ngắt, chơ vơ, nổi lên chìm lịm giữa bốn bề mênh mông thảo nguyên bao la quạnh vắng.

Vào giờ đó, phía bên kia đồng cỏ những cỗ 105 ly trong căn cứ của Quân đoàn II ngụy vẫn đang ngon giấc và chiếc thám thính cơ L19 được dành riêng cho làng Diêm còn chưa chấm hiện lên ở chân trời. Dưới sông A Rang chảy qua bên làng, chiếc xe tải qua ngầm trễ nhất vừa lội lọt sang bờ bên kia, để lại những vòng sóng lan rộng tắt dần trên mặt nước mùa khô phẳng phiu.

Vào khoảng giờ này hồi trước trong thinh không đang ngân vang tiếng chuông giục giã giáo dân đi lễ mi-xa buổi sớm, nhưng trúng phải đạn đại bác tháp chuông đã từ lâu rồi im hơi lặng tiếng. Khắp sân nhà thờ toang hoác những hố bom và hố pháo không ai buồn lấp. Um tùm lùm bụi và gai góc tràn lấn các lối đi. Hàng sáng trên thềm đá dưới hiên nhà thờ, một vị linh mục trong bộ chùng thâm âm thầm tựa cửa ngóng mặt trời lên.

Suốt đêm, trên khúc đường 14 chạy ngang trước nhà thờ nườm nượp xe pháo và quân lính trẩy dọc qua làng. Bây giờ tất cả đã biến đi nhường chỗ cho buổi tinh mơ không một bóng người.

Sau sương, trên đường thôn nghe như có tiếng xe bò lăn bánh, lộc cộc lộc cộc ra đồng. Đây đó, im lìm rải rác những mái nhà tôn còn ẩm hơi khuya nhè nhẹ thở ra làn khói bếp.

“Ta rong chơi giữa đời… ới a… biết đâu nguồn cội…”, từ đâu đó dưới đáy sương nương theo ngọn gió sau chót của trời đêm đang lẳng lặng giã từ bờ sông và đồng cỏ, tiếng hát cất lên, bổng bay.

Trong cõi lòng ủ ê của linh mục thoáng rợn luồng cảm giác như dòng điện. Ông rùng mình, bàn tay chực đưa lên làm dấu thõng rơi. Nhắm mắt lại, ông cúi đầu xuống, khẽ thở dài.

Xa, sau rặng đồi thâm thấp nhấp nhô trên bờ đông đồng cỏ vừng dương ướt át, mềm mại và tươi hồng đang thầm lặng nhô lên. Từ tù mù xám đục không gian bỗng trong vắt một vùng và cả nửa vòm trời đã ngả màu lơ. Ánh sáng lung linh chảy thành dòng. Cùng với ngày mới tiếng hát dường như lớn lên mãi và tràn rộng ra, vừa sâu trầm vừa vút cao, tự thoát đi trở thành âm thanh vô chủ, ngân lên hoang dã trở thành khúc du ca của thiên nhiên.

Trong làng, bọn nhãi hát với theo Diệu Nương. Người lớn, ai nấy sững sờ.

Bên sông, trong trận địa phòng không bảo vệ ngầm, các pháo thủ đang làm những công việc chuẩn bị cho trận đánh trong ngày bất giác ngừng hết lại. Các trinh sát viên rời mắt khỏi bầu trời, dõi ống nhòm về phía làng.

“… trăng ơi mày quá tệ…”

- Kìa! Trông kìa, cô ta đấy!

Một người lính kêu lên, đưa tay trỏ.

Cảnh vật được ống nhòm làm cho xích gần lại. Sau những lùm cây che lấp con đường nhỏ viền quanh làng dường như thấp thoáng bóng người đàn bà đang hát. Trong màn ban mai, ảo mộng và thực tại lẫn lộn, âm thanh và hình ảnh nhòa nhập. Một thân hình thon thả, một dáng đi uyển chuyển. Suối tóc xõa trên lưng. Song đó có thể chỉ là hư ảnh của bài ca, một ảo giác lồng trong tiếng hát. Một bóng ma. Một bóng ma tha thướt và quyến rũ, mềm mại và sống động, nhưng có thể bỗng chốc tan biến trong huyền bí.

Đứng trên nóc hầm thông tin, đại đội trưởng và chính trị viên chuyền nhau chiếc ống nhòm.

Huyền thoại về Diệu Nương, ca sĩ ngụy Sài Gòn bị chiến sự thình lình cầm giữ trong vùng Giải phóng, lâu nay là câu chuyện hàng ngày ở pháo đội này. Trí tưởng tượng của từng người làm giàu thêm những chi tiết hoang đường.

- Rong chơi! - Chính trị viên buông ống nhòm, nhăn mặt - Không bắt cái đồ đĩ ấy câm miệng lại, cả đại đội sẽ bị nó hớp hồn. Rồi sẽ khối đứa đâm đầu theo nó mà rong chơi.

- Nhưng làm sao cấm hát được? Đại đội trưởng nhún vai.

- Cấm! Vì là nhạc vàng, là phản chiến, là ngụy ca!

- Đấy là Trịnh Công Sơn.

- Cũng thế thôi. Mà sao cứ đúng giờ này là nó nỉ non, hay nó làm ám hiệu? Hay nó muốn rủ rê lính mình bỏ trận địa xuống ngủ với nó cho sinh bệnh mất sức chiến đấu, hả? Có phải nó toan thế không?

- Nhưng cô ta hát mới hay làm sao. Thật là một giọng hát tiên cô…

Ở bên kia sông, một toán bộ binh đang lội qua vàm cỏ tranh. Ánh kim loại lấp lánh. Người đi sau cùng dừng lại, ngoái nhìn về làng Diêm.

Mặt sông A Rang màu lam đang bốc hơi nghi ngút. Gió sang sông mang theo tiếng hát. Cơ thể người lính đón nhận tiếng hát với cái rùng mình. Giai điệu bài ca như đụng khẽ vào tim anh. Trong trẻo và sáng rõ như được tắm gội trong khí mát ban mai, nhưng càng lan xa bài ca càng rung lên nỗi buồn, một nỗi buồn sâu thẳm, cao vợi và rộng lớn vô biên, dường như tiếng hát ấy chính là nỗi niềm của thảo nguyên. Thảo nguyên tự do, mênh mông vô tận, chạy hút về phương trời xa xăm, không biết đến các tuyến tiền duyên, không màng gì tới chết chóc, trận mạc, bom pháo, giết chóc.

Buồn thay khúc du ca lạc loài. Nỗi sầu thương hồ hải.

Mặc dù người ta đồn thổi, người ta thêu dệt, đời Diệu Nương vẫn hoàn toàn là bí ẩn. Thiên hạ chỉ chắc chắn rằng Diệu Nương lưu lạc đến vùng sông A Rang này vào mùa hè năm 72, sau ngày quân Giải phóng tấn công và quân Sài Gòn tháo chạy, còn trước đó cô là ai, từ đâu cô phiêu bạt tới, tên thật của cô thế nào thì chẳng mấy người biết, mà những người xưng là có biết thì lại mỗi người kể mỗi phách. Ngay chính Diệu Nương hình như cũng không hề hay biết gì nữa về mình. Đời cô, cô dường đã quên cả.

- Nghe nói khi dạt về đến đây cô ta chẳng còn lấy một manh vải che thân.

Tôi cũng nghe nói vậy. Song, vào “Mùa hè đỏ lửa” thì có riêng gì cô ta mới ra thân tàn ma dại, tôi nghĩ. Cũng như cỏ cây, số phận con người mà bị khói lửa chiến tranh ngốn thì chỉ thoáng chốc thôi là thành tro than.

Năm 72, chiến sự rùng rợn giết hàng đống người. Người chết, chết ngả rạ dọc các ngả đường, la liệt trên các nội cỏ và nổi lềnh phềnh trên mặt sông. Người còn sống sống ngắc ngoải, dở sống dở chết. Tứ phương tan tác. Cả đến thiên nhiên cũng như thể bị hóa kiếp. Cảnh làng biến tướng.

Thực ra thì không làm gì còn làng nữa. Ngày trước làng ồn ào nhộn nhịp, nửa làng nửa phố, nhà cửa san sát, trù phú, thịnh đạt. Cách thị xã chỉ mười cây số đường chim bay, làng được quân Mỹ gìn giữ. Đàn ông trong làng đi lính hưởng lương. Đàn bà chạy chợ. Cả làng ngoan đạo. Bây giờ thì bao nhiêu sự giàu có thời Mỹ-ngụy đều rữa nát và mục thối ra dưới những đống hoang tàn.

Ngày ngày làng rơi vào tầm đại bác từ thị xã rót về, và ngày ngày hàng đàn phi cơ tràn tới, hoặc cắn đuôi nhau bổ nhào hoặc bay bằng trút bom xuống làng, xuống hai bờ sông, xuống đồng cỏ. Cây cầu sắt bắc qua sông A Rang bị đánh sập. Công binh vận đá về làm ngầm, bom pháo càng thêm ác liệt. Đất trời nghiêng ngửa.

Giữa năm 73, tiểu đoàn 17 pháo cao xạ được điều về giữ ngầm A Rang. Ba đại đội pháo 37 ly chốt hai bên bờ sông, tạo thế chân kiềng quần nhau với không lực Sài Gòn. Đại đội tôi bám chân ngay kề làng Diêm.

Một cái làng cô hồn. Cỏ dại, gai góc, lùm bụi, những đống gạch vụn, ngói nát, rầm gãy ngổn ngang. Rải rác, xiêu vẹo, những túp những nửa lều nửa hầm mọc ngoi lên trên nền đổ nát. Từ những đống hoang tàn bầy chó trong làng bươi ra đủ thứ nát bét của đời sống một thời đã sụp đổ: những mớ nhầu bấy, rách bươm và sặc sỡ váy áo, mũ mão, đồ da, đồ nhựa, những mảnh vụn đồ gỗ, đồ thủy tinh, vật dụng gia đình… cùng những khúc xương xẩu người và gia súc mà đàn chó xâu xé, giằng giật của nhau, tha đi, chuyền cho nhau như đánh khăng.

Dân cư của làng thưa vãn và suy tàn, đầy rẫy những nhân vật hoang dại. Đàn ông còn lại chẳng bao nhiêu mà đa phần lại là những phế binh đã hết thời được ngó ngàng chăm sóc, què cụt, đui mù, bẹp dí. Hầu như chỉ thấy đàn bà và trẻ con ló mặt khỏi nhà. Những mụ vợ lính lạc chồng, những ả góa rách rưới, rạc rài, không lai lịch và bầy trẻ ranh ốm đói trần truồng, bụng ỏng, gầy giơ xương.

Phần đông vốn không phải người làng Diêm. Mùa hè năm 72 từ nhiều thị trấn, làng mạc, khu gia binh họ nhập vào dòng thác chạy loạn đổ xô theo đường 14 dồn về thị xã. Đụng phải xe tăng Giải phóng, biển người bị nén lại ở làng Diêm. Tại đây, vào lúc nửa đêm đã diễn ra một cuộc thảm sát.

Người ta kể lại rằng đêm ấy, nghe tiếng động cơ của một chiếc Dakota lượn ì ì trên bầu trời đồng cỏ, đám dân chạy loạn đã đốt lên cả ngàn ngọn đuốc. Một cây thánh giá khổng lồ đã được vẽ ra bằng lửa trên quảng trường trước nhà thờ. Trong đêm tối, người ta hò hét, kêu gào vẫy gọi con tàu Nô-ê trên lưng chừng trời. Không ai nghe thấy những loạt đề pa, không ai nhìn thấy những nhoàng lửa đầu nòng chớp lên giần giật ở chân trời. Sau cả giờ chết chìm trong pháo bầy cấp tập, lại tiếp tục những lượt người tan xương nát thịt dưới trận mưa bom kéo rền rền tới tận sáng. Trong nhúm người may mắn còn được sống có lẫn Diệu Nương.

Bọn họ trở thành người làng Diêm từ đấy. Từ đấy tất cả bắt đầu cuộc đổi đời bắt buộc. Tất cả đều phải cam chịu sống đời gian khổ, ăn đói mặc rách, đổ mồ hôi trên nương sắn rẫy lúa tự cày cuốc nuôi thân. Tất cả đều phải sớm biết thu mình vào khuôn khổ kỷ cương của chính quyền mới. Những kẻ cứng đầu, những tên to mồm đều bị thẳng thừng trấn áp. Nhiều tên bị bắn, nhiều kẻ bị bắt.

Diệu Nương cũng đã một lần bị du kích tống giam. Họ nhốt cô ba ngày trong xà lim hầm đất vì tội nhiều lần hát những khúc ca ngụy. Được thả, cô vẫn chẳng chừa, vẫn buông thả không khuôn phép, tự do lãng đãng sống tách khỏi cộng đồng, và sáng sáng chiều chiều cô vẫn cứ hát, giọng ca huyền hoặc quỉ ám. Người ta đồn rằng đêm đêm cánh đàn ông vẫn mò mẫm tới túp lều nát của cô ở ven sông. Họ gõ cộc cộc vào cánh cửa gỗ dán hoặc cào sột sột vào vách liếp. Họ thu trong tay họ người thì phong lương khô hoặc túi gạo sấy, người thì hộp thịt, bao thuốc lá hay miếng vải, hay là kim chỉ, gương lược, diêm muối, đủ thứ để đổi lấy một thứ. Chẳng có bằng chứng nào, song tiếng tăm điên rồ và vô liêm xỉ của Diệu Nương vẫn xầm xì lan rộng. Có thể vì thế mà nhiều người bảo rằng ngày trước Diệu Nương là gái bán bar trong căn cứ Mỹ, thậm tệ hơn người ta còn bảo cô vốn là một con “thiên nga”, đại khái là đồ đĩ rạc. Hư thực ra sao chẳng ai quả quyết, bởi vì còn những lời đồn đại hoàn toàn khác, những thuyết khác hẳn về nguồn gốc của Diệu Nương.

Nhiều người nói rằng thuở trước cô là một danh ca Sài Gòn. Ban nhạc của cô nhận lời lên biểu diễn cho một đơn vị biệt động quân đồn trú tại Tân Trấn. Suất diễn cuối cùng rủi thay lại trùng với giờ N mở màn Mùa hè đỏ lửa. Xe tăng và bộ binh Bắc Việt tràn ngập Tân Trấn, tuyến phòng thủ vỡ, quân lính bị giết, ban nhạc tan tác. Diệu Nương theo dòng người chạy về tới làng Diêm thì cùng đường. Áo xống lộng lẫy của nữ danh ca đã thành tã trong cuộc tháo chạy ngang qua đồng cỏ ngụt lửa. Đêm đến, trong hỏa ngục rùng rợn của cuộc tàn sát, Diệu Nương bị vùi dưới núi xác chết chất trên sân nhà thờ. Hơn một ngày thở bằng hơi thở của các tử thi rồi cô mới được moi ra, trần truồng, bê bết máu đặc. Và bởi chấn thương tinh thần do nỗi kinh hoàng đêm ấy mà Diệu Nương trở nên điên dại, người ta bảo thế. Lúc điên ngấm ngầm, lúc lấp lửng điên, lang thang, vật vờ, nửa mộng du, lúc bột phát quay cuồng, mất trí.

Từ đấy, mặc dù được giải phóng nhưng đời cô mai một. Bàn tay cô quá mềm, da quá mỏng không cầm rựa phát cây được, không nhấc nổi cuốc để cuốc đất, nên thân cô không được trui rèn, không tự cải tạo nổi bằng tăng gia sản xuất. Sắc đẹp của cô chỉ nhấn mạnh thêm lên vẻ lạc loài. Giọng hát của cô chẳng hữu ích cho ai trong thời buổi nghiệt ngã cam go, nay sống mai chết, nhọc nhằn và túng đói.

Tuy nhiên, ngày ngày, vào những ban mai và những hoàng hôn, bản năng xướng ca vẫn thúc bách Diệu Nương cất tiếng hát. Giọng ca tuyệt vời song thảng thốt như làn gió dại lướt xiên đồng cỏ trong ánh nhá nhem buồn thảm của mỗi ngày. Trong lời ca của Diệu Nương đau thắt nỗi nhớ quê nhà, nhớ đời nghệ sĩ, nhớ sàn diễn, nhớ khán giả, sắc đẹp và tuổi thanh xuân mà nay tất cả đã rời bỏ cô, đã xa lắc xa lơ ở bờ bên kia không thể vượt qua được của chiến tuyến.

“… nhưng ôi, chúng ta, chính chúng ta đây.

một thời chúng ta cũng có.

một quê hương và một mối tình…”

Ở làng Diêm bây giờ vẫn còn có người nhẩm lại được giai điệu và lời của bài hát buồn vô hạn ấy mà một buổi xế chiều xa xưa nọ Diệu Nương đã lần đầu hát lên. Chiều ấy, lúc xế tà, bộ đội dong tù binh qua làng. Hằng trăm lính áo rằn bị trói thành cặp, lầm lũi lê bước. Những lính áp giải đầu súng gắn lê, gay gắt, lạnh lùng lùa thúc đoàn tù đi mau qua khỏi khu vực dân cư.

Hai bên đường sau các ngưỡng cửa thấp lè tè lấp ló những khuôn mặt sợ sệt, bồn chồn. Dân làng mong tìm kiếm người thân trong đám tù binh nhưng chẳng ai dám mon men ra đứng ở vệ đường.

Chợt sau rặng cây phía cuối làng thấp thoáng bóng một người. Ấy là Diệu Nương, và giờ đấy, giờ tận chiều của mỗi ngày cũng là giờ xuất thần của cô.

Môi mấp máy, mắt nhìn chăm chăm, Diệu Nương rẽ đám cành lá, đi theo đoàn tù. Những người đàn ông lưng còng đang lê bước không để ý tới cô. Trong bóng chiều chạng vạng mặt mày họ tối om như mặt đất.

Bỗng người ta nghe thấy những âm thanh như tiếng ai khẽ nức nở. Diệu Nương lấy giọng yếu ớt và vấp váp hát lên một khúc ca hầu như chưa từng ai nghe thấy trên đời. Tiếng hát nhỏ, giai điệu u tối và không rõ lời.

Như nghẹn ngào, Diệu Nương ngừng lại lấy hơi rồi lại hát tiếp. Ở giữa khối tù một người chợt cất cao giọng. Rồi một người khác nối theo. Rồi nhiều người. Giọng hát của Diệu Nương như lướt một cái hôn dài trên môi tất cả. Đoàn tù biến thành dàn đồng ca. Những giọng đàn ông chung nhau một bè trầm át tiếng chân bước. Đội áp giải không bắt tù phải im miệng. Những ngọn lê chúc cả xuống.

Dân làng ra hết hai bên đường. Họ lặng lẽ đứng chôn chân nhìn theo đám rước đang khuất dần trong vầng bụi bốc lên trên con đường tù đày vô định xuyên qua thảo nguyên bát ngát. Bài ca của Diệu Nương và của những chiến binh xấu số vang lên trong thinh không lúc ấy đã tràn đầy bóng tối.

“Trong cuộc huynh đệ tương tàn.

Chúng ta chỉ là con sâu cái kiến.

Nhưng ôi, chúng ta, chính chúng ta đây.

Một thời chúng ta cũng có.

Một quê hương và một mối tình…”

Giờ đây, Diệu Nương đã chết. Trên đồng cỏ, giữa vô vàn gò đống, nấm đất nào là nấm đất của Diệu Nương, ai là người có thể chỉ ra được?

Và cả nấm mồ của người bị bắn chết cùng cô nữa, thất lạc nơi đâu trong đất trong cỏ?

Cuộc sống triền miên trôi chảy. Cuộc sống không hề có trí nhớ. Những lớp lá rụng, những lượt thời gian. Đất cát. Cỏ cây. Mùa mưa. Mùa khô. Năm này tấp lên năm khác.

Ngôi nhà thờ của làng Diêm cuối cùng rồi cũng bị máy bay triệt hạ. Cỏ dại chôn vùi các bức tường đổ, nuốt dần các bậc thềm. Sáng sáng tiếng quạ kêu trong thánh đường hoang tàn gợi người ta nhớ tới vị linh mục. Ông ta đã bỏ làng ra đi, chẳng ai biết là đi đâu…

Bên sông trận địa pháo cao xạ chỉ còn chơ vơ những công sự hình móng ngựa đã sụt lở. Đây đó vài hố bom đìa hoác miệng. Những hố bom bi, bom phạt quang và hố đạn pháo thì thời gian đã san bằng. Và cái lối nhỏ ngày xưa đính pháo đội với làng Diêm nay chỉ lờ mờ một vệt trăng trắng uốn lượn lẩn khuất dọc bờ sông um tùm lau lách. Lính tráng đi xa chắc vẫn chưa quên con đường mòn ấy. Trên lối ấy, hồi đó, ngày hai bận anh nuôi từ trong làng gùi cơm canh ra trận địa. Ban đêm, nhất là những đêm tối trời, cũng lối ấy lính các khẩu đội tụt tạt mò vào làng “dân vận”. Thoáng bóng cán bộ đại đội hay là tuần tra của du kích, những kẻ xé rào đi ăn sương lẳng lặng né ngang xuống mép sông, thu mình trong bãi lau. Văng vẳng tiếng cuốc kêu phía đầu làng. Hơi ẩm màn đêm ướt lạnh vai áo. Cầm lòng không đậu.

Hồi ấy, lệnh trên gần như cấm tiệt bộ đội không được tiếp xúc với đám dân còn chưa được giác ngộ, còn nửa ngụy của vùng mới giải phóng. Không có nhiệm vụ tuyệt đối không được láng cháng vào làng. Kiêng kỵ như vậy thật kỳ quặc, nhưng quân lệnh như sơn, lơ mơ bị bắt quả tang đang vi phạm thì tha hồ mà kiểm thảo lên kiểm thảo xuống, rồi kỷ luật đảng kỷ luật đoàn đủ vành đủ vẻ tai vạ chuốc vào thân. Mặc dù vậy, lính gần dân lửa gần rơm.

Dẫu không phải là tình cá nước, nhưng thời gian trôi qua quan hệ vụng trộm giữa các khẩu đội pháo với những túp lều nát trong làng đã thầm lén in lên mặt cỏ một lối mòn. Ban ngày, trừ tổ anh nuôi không ai lai vãng trên lối đi ấy, nhưng đêm xuống đó là đường ân tình. Có lẽ tới bây giờ trong mỗi túp lều còn có thể gom lại hàng mớ kỷ vật và ở trong lòng mỗi người dân thì còn vương nhiều kỷ niệm về các tay lính pháo thủ cao xạ Bắc Việt ngày ấy. Người ta bảo rằng trong quan hệ quân dân khuất tất hồi ấy đã lén lút sinh ra không ít niềm quyến luyến, gồm cả những mối tình, cho dù hầu hết chỉ thoảng qua, vội vã, chợt nhen chợt tắt, tù mù, chẳng dẫn tới gì, chẳng đi tới đâu, nhưng vẫn là tình.

Hồi ấy niềm ước ao hạng nhất của lính pháo thủ là được vào làm phụ bếp cho anh nuôi trưởng Cù. Cả đại đội chỉ mỗi Cù chốt hẳn trong làng, còn hai phụ bếp thì phải luân phiên, mỗi tháng thay một lần.

Chẳng hiểu là tới bây giờ hai cái lán nứa nền âm, một nhà kho, một nhà bếp, được cất lên ngay cạnh khuôn viên nhà thờ có còn dấu tích gì không. Hồi đó, Cù nhắm vuông đất bên nhà chung bởi anh hy vọng đấy là tọa độ tương đối ít phải ăn bom. Bất tiện là phải chung giếng nước với ông cha đạo nhưng Cù thích cái giếng ấy, nước của nó trong và ngọt nhất làng. Còn cha cố thì tiếng vậy chứ cũng là người. Mặc dù trẻ tuổi song ông ta rất nghiêm túc, vẻ lễ độ khoan hòa, ứng xử biết điều hơn bất kỳ ai trong đám chúng dân làng Diêm. Cù không ưa gì họ. Rặt một phường vô dụng. Sống giữa đồng cỏ, đất đai vô thiên song vì là thứ dân tứ chiếng, một hạng nông dân miễn cưỡng, họ không thiết làm lụng để có cái ăn mà chỉ toàn xoay xở đắp đổi qua ngày. Có lẽ bọn họ đã quá quen với viện trợ Mỹ, quá quen nằm ngửa ăn sẵn, nên giờ đây lòng họ chỉ canh cánh hoài tiếc thuở vàng son đi lính và làm đĩ cho Mỹ cho ngụy, Cù nghĩ. Có lẽ bọn họ đều ngấm ngầm một lòng với địch, ngấm ngầm ngóng đợi một thời cơ, sau cái vẻ bề ngoài nhẫn nhịn và cam chịu mà Cù thấy là đê tiện.

Và nhất là bọn đàn bà. Cù không hiểu nổi can cớ làm sao mà đồng đội của anh nhiều tay lại để cho chúng hớp hồn dễ dàng như vậy. Cả đại đội, năm chục thằng, bao nhiêu năm tút hút trong rừng sâu với nhau chẳng thành vấn đề gì, nhưng vừa kéo nhau ra nơi trời đất quang quẻ, có sông, có làng, có thấp thoáng bóng đàn bà là có chuyện. Mà nào phải là người phụ nữ hiền thục, trung hậu, đảm đang nơi quê xa ngoài Bắc hay các chị em giàu truyền thống cách mạng trong vùng hậu cứ. Cả làng, Cù nghĩ, rặt một lũ vi trùng giống cái.

“Vi trùng giống cái truyền bệnh tiêm la, giang mai…”, chí ít thì đấy cũng là cái cách anh thường nói để răn đe các tay phụ bếp.

Không phải bất cứ gã nào ngoài trận địa Cù cũng nhận vào tổ anh nuôi. Những tay nom tốt mã, những tay bẻm mép, láu lỉnh, lắm tài vặt, dễ léng phéng là Cù gạt ngay. Có tay nom bề ngoài củ mỉ cù mì nhưng phụ bếp mới quá một ngày đã bị Cù tống khứ về với mâm pháo vì hóa ra là một thằng tẩm ngẩm tầm ngầm.

“Đã là thằng anh nuôi ngày ngày thường xuyên với gạo nước rau mắm của đơn vị - Cù bảo - thì hai bàn tay phải tinh khiết, cấm đụng chạm tới những sự uế tạp, dơ dáy, nhất là cấm kỵ không có được vọc vào đàn bà.”

Dân làng cũng sợ Cù. Chẳng ai dám mon men tới gần giếng gần bếp của anh. Dẫu có bắt quen được với tay phụ bếp nào, muốn xin xỏ hay đổi chác gì thì cũng phải đợi lúc Cù gùi cơm ra trận địa mới hòng.

Ngày hai lần, tinh mơ và chiều tà, để một người coi nhà, còn Cù cùng một anh nuôi viên nữa mang bữa ăn ra cho các khẩu đội pháo. Con Ních, một con chó săn nòi Lào nhỏ vóc và nhanh nhẹn, thính mũi cực kỳ chạy mở đường. Họ đi trên đường 14 một đoạn ngắn rồi rẽ xuống, lối đi lượn vòng vèo trong làng qua các túp lều nghèo nàn bệ rạc tường đất mái tôn. Họ đi, người hơi đổ về phía trước, hai bàn tay vòng sau chắp lại đỡ lấy đáy gùi. Hai cái gùi to như hai cái thùng phuy, bọc bao tải, tỏa hơi nóng và mùi cơm chín tới, mùi thức ăn lính.

Bầy chó trong làng thoáng bóng con Ních, chạy dạt. Đói meo, chúng núp sau các đống đổ nát, nhìn ra mà không dám sủa. Chỉ có mấy thằng bé rách rưới bị mùi cơm canh nóng sốt quyết rũ là lẵng nhẵng bám theo hai cái gùi.

- Bác anh nuôi ơi, bác anh nuôi… - Chúng kêu lên khàn khàn như đàn quạ.

- Bọn ngụy con, cút xéo! - Cù quát.

Nhưng nếu có ông lỏi nào gan lỳ theo được tới cuối làng thì Cù dừng bước, vẫy nó lại. Anh móc trong bị cói đeo bên hông ra một củ sắn nướng hoặc bắp ngô luộc, có hôm cả một con cá khô. Anh bảo:

- Đó, cho mày. Có vậy thôi. Cơm canh bộ đội có chó gì. Sắn cõng gạo. Tàu bay chấm muối riềng. Ơn cách mạng đời chúng mày được giải phóng, nhưng phải biết chịu khổ. Phải biết cuốc cày mà nuôi lấy nhau, về bảo mẹ chúng mày thế. Đừng có ưỡn ườn ra trên giường mà chờ sung. Cách mạng còn dài. Đến hết đời chúng tao. Hết cả đời chúng mày…

Nghe nói đến tận bây giờ người ta vẫn thấy con Ních đi và về trên con đường ấy. Nó lần ra bờ sông, ngửi hít những cái vỏ đạn 37 ly đã rỉ xanh, rồi leo lên một cái hầm pháo cao xạ ngập trong cỏ tranh, nó đờ đẫn ngó làn nước trôi. “Bác anh nuôi ơi, bác anh nuôi!”, một trong những thằng bé hồi ấy giờ đã lớn quen miệng cất tiếng gọi khi trông thấy con chó già cô độc bị bỏ rơi đang đi trên đường thui thủi. Dường như thằng bé còn nom thấy đằng sau con chó hình bóng hai người lính cấp dưỡng đang cõng trên lưng hai chiếc gùi.

Con chó bị riết vào lối mòn xưa. Và bao giờ nó cũng qua làng vào thời điểm thấp nhất của mặt trời: khi ban mai, khi hoàng hôn. Không gì có thể làm xao nhãng cuộc mộng du ấy. Không ai dám đụng tới con vật đó.

- Chính là nó đã giết chết Diệu Nương.

Những người mang máng biết chuyện bảo thế. Nhưng những người không hề hay biết gì về tấn thảm kịch cũng sờ sợ con chó, họ mơ hồ cảm thấy trong cuộc dạo chơi buồn thảm nhịp nhàng, lặp đi lặp lại của nó một vẻ mù quáng và điên dại đặc biệt con người.

Lần ấy, đến hẹn, khẩu đội 3 và khẩu đội 4 cử người vào làm anh nuôi thay cho Bình khẩu đội 1 và Tuấn khẩu đội 2 đã hết phiên. Nhưng trái lệ thường, Cù chỉ thay Bình còn giữ lại Tuấn. “Thằng Tuấn thạo việc rồi, với lại nó rất chịu thương chịu khó, có thể kế cận cho tôi làm anh nuôi trưởng cũng được”, Cù giải thích thế với chỉ huy đại đội.

Tuấn vốn gốc gác bộ binh. Bị thương nặng, đáng lý được ra Bắc rồi nhưng nghe động viên thế nào đó đã tình nguyện ở lại chiến trường. Người ta không điều Tuấn về lại đơn vị cũ mà bổ sung sang tiểu đoàn cao xạ. Anh về đại đội tôi mới được nửa năm, giữ chân pháo thủ số 3 ở khẩu đội 2.

Vóc người anh cao, ốm yếu, võ vàng, cổ lộ hầu, một vệt sẹo dữ dội do đạn bắn thẳng cày chéo từ mang tai xuống cằm. Miệng anh vì thế méo đi, cho anh cái biệt danh là Tuấn “mếu”. Mặc dù là dân Kinh Bắc nhưng Tuấn lầm lỳ, nóí ít lạ lùng và nói miễn cưỡng. Giữa một đám pháo thủ luôn ăn to nói lớn, thích tán dóc đấu láo, Tuấn âm thầm nín thinh, chẳng góp chuyện, chẳng bật cười, chẳng bao giờ tức khí nổi xung. Tuyệt đối thờ ơ lãnh đạm. Một nhà quí tộc hay một gã chán đời?

Tuấn dửng dưng với những cú bổ nhào trực tiếp lao cắm mặt xuống cắt bom của máy bay cường kích. Bom nổ xa, nổ gần, rốckét nã trúng bờ công sự, Tuấn kệ. Song cái thứ tính khí lạnh nhạt, bàng quan với tất thảy ấy lại có vẻ hết sức thích hợp để làm pháo thủ số 3. Giữa cuộc hỗn chiến đất đối không, số 3 chân chính là người không hề để mắt tới máy bay, tới bom, tới đường đạn bắn lên trúng hay trượt, mà hoàn toàn ung dung tự tại, anh ta chỉ một nhiệm vụ là điềm nhiên bình thản quay tay quay điều chỉnh cự ly bắn đón cho pháo theo nhịp đếm của trắc thủ đo xa.

- Đánh nhau kiểu cao xạ sao mà tẻ - Có lần Tuấn ra lời bình phẩm như thế với tôi - Đánh trận mà như là đánh máy chữ. Chẳng có kịch tính gì, khác xa bộ binh.

- Tại cậu đứng mãi số 3 nên thấy thế đấy - Tôi bảo - Nếu muốn thì đề nghị khẩu đội trưởng cho hoán vị, tớ đứng số 3, cậu ngồi ghế số 2 của tớ mà dận cò.

- À không. Là nói thế. Chứ bảo mình thế nào thì mình thế nấy. Chả xin gì chả ước gì. Thế tuốt!

- Chán đánh nhau sao không ra Bắc, lại ở lại?

Tuấn nhún vai.

- Hay thất tình? Chắc hay tin vợ ở nhà ngủ với dân quân chứ gì?

Tuấn “à” một tiếng rồi lại ngậm tăm. Miệng méo xệch.

Thực ra Tuấn vợ con chưa, ai mà biết. Cả chính trị viên cũng không nắm được gì nhiều về Tuấn ngoài mấy dòng trong lý lịch quân nhân. Tuấn chẳng tâm tình, chẳng thiết thổ lộ. Chẳng bao giờ thấy anh viết thư hay được thư. Họp hành, anh ngồi im. Cùng lắm là ậm ừ.

Ngoài cái nết kín bưng nổi bật ấy, Tuấn có nét nổi bật nữa là tài chơi đàn. Khác với lối chơi ghi ta thường thấy của lính, Tuấn không vừa đàn vừa dậm chân rung đùi, không lúc lắc vai, không vừa đàn vừa huýt sáo hay là ư ử trong họng, anh đàn một cách thẫn thờ, chẳng phải để cho ai nghe, cũng chẳng phải cho mình.

- Cậu chơi bài gì nghe lạ vậy Tuấn?

Tuấn lại chỉ “à” khẽ một tiếng.

Vào làm anh nuôi, Tuấn cũng xách ghi ta theo. Một cây đàn cũ kỹ, thùng đàn xây xát, nhưng mà tiếng rất tốt. Nghe nói Tuấn đã tha theo cây đàn này vào bộ đội và mọi người đều lấy làm lạ không hiểu bằng cách nào mà anh vẫn giữ được nó qua bao nhiêu là chặng của đời lính.

Vào làng buổi sáng, chiều Tuấn đã cùng Cù đưa cơm ra trận địa. Gùi canh môn thục tổ bố bốc khói trên lưng.

- Vất vả không Tuấn?

- Cũng vất.

- Bọn đàn bà làng Diêm thế nào, giàu kịch tính không?

- À.

Tuấn hờ hững. Bảo ở pháo thì ở, bảo vào làm anh nuôi thì vào, anh chẳng sốt sắng cũng chẳng thoái thác. Im lìm nguội lạnh, chẳng nói chẳng rằng, song anh làm việc hết mình, không hề nề hà ngại khó, chẳng bao giờ kêu ca.

Lúc đầu Cù không thích Tuấn, anh bực với cái lối âm thầm ngậm tăm ấy, nhưng rồi cũng đâm quen. Trầm tính không phải là một cái phốt, vả lại làm anh nuôi thì cả ngày đầu tắt mặt tối, túi bụi, tất bật, luôn chân luôn tay còn đâu thời gian hở ra mà chuyện vãn.

Chỉ có một khoảng ngắn ngủi về khuya, khi một ngày cơm nước cho đơn vị đã chu toàn, ba chàng cấp dưỡng mới được tắm táp, nghỉ ngơi, tranh thủ trao đổi với nhau đôi lời trước khi mệt nhọc rũ người xuống võng. Cù lôi rượu ra. Mỗi thằng nhấp một chén và nghe Cù cắt cử phần việc phải làm ngày mai. Hôm nào được chút thảnh thơi, Cù và Bình đánh bài, còn Tuấn thì gỡ cây đàn treo trên vách xuống, chầm chậm so dây rồi nhè nhẹ phác một giai điệu.

Bấy giờ, khoảng đầu tháng Năm ta, đêm thường mưa. Ngoài sông A Rang nước lên, con lũ chuyển mùa ầm vang đồng cỏ. Trên mây sấm lăn rền rền.

Bình huýt sáo nhịp theo khúc nhạc. Cù buông bài, quay sang lặng lẽ nghe Tuấn đàn. Âm điệu quá quen thuộc mỗi sáng mỗi chiều. “Ta rong chơi giữa đời biết đâu nguồn cội”.

Ngoài trời miên man mưa, không khí trong lán ẩm ướt. Quầng sáng đèn dầu vàng ủng. Đời lính buồn rầu hiu hắt. Như tiếng thở dài.

Bếp anh nuôi của pháo đội cao xạ và căn nhà của linh mục nhìn sang nhau qua một vườn rau. Hai bên dùng chung cái giếng xây và cùng đi một lối để vào làng.

Nhà của linh mục cũng nền âm, lại thêm bốn ụ đất chống mảnh bom bao quanh nên từa tựa một cái hang. Trong tu phòng chẳng có đồ đạc gì. Một chiếc chõng tre với nệm rơm và gối gỗ, một cái kệ để sách và ảnh thánh. Bên ngoài cửa ra vào treo một cái giá, hàng sáng con chiên trong làng đưa cơm tới để lên giá đó cho linh mục. Mỗi ngày ông ra khỏi tu phòng đôi ba lần và hầu như chưa hề đi đâu vượt ra ngoài khuôn viên nhà thờ. Ông sống thu mình kín đáo trong vòng chí thánh.

Bỗng dưng ông rời bỏ nhà thờ, rời bỏ làng Diêm, lặn mất tăm. Ngày ông biệt tích trúng với ngày Diệu Nương bị giết. Lập tức sinh ra những lời đồn thổi. Tất nhiên chẳng có bằng cớ gì. Có điều từ đấy trong hầu hết các câu chuyện và các giả thiết về đời Diệu Nương người ta đều thấy thấp thoáng bóng cái áo chùng thâm.

Bản thân linh mục cũng là một số phận xui xẻo. Tai họa đến với ông cũng bất ngờ, na ná tai họa dành cho Diệu Nương. Nhằm đúng hôm ông lĩnh mệnh bề trên về nhà thờ làng Diêm cai quản xứ đạo thì Việt Cộng đùng đùng đánh lớn. Chiếc xe đò đưa ông từ thị xã về làng chưa kịp vào bến đỗ đã nghe súng nổ ran dọc bờ A Rang. Pháo 130 ly cấp tập nã và xe tăng T54 xuất hiện thình lình trên đường 14 tàn nhẫn cắt lối chạy lui. Hành khách đổ xuống xe xô nhau chạy và đám đông con chiên đang tề tựu để mừng đón cha xứ cũng lâp tức nháo nhào tan tác.

Người ta bảo rằng đúng vào cái đêm khủng khiếp, đêm bọn Mỹ dập pháo và dội bom xuống biển người di tản, tình cờ Diệu Nương nằm kề bên linh mục. Chính ông đã moi cô ta ra khỏi núi xác chết. Và mặc dù khi ấy Diệu Nương chỉ còn là một cái xác lõa lồ, bê bết máu me, ông đã làm cô hồi tỉnh, đã cứu sống cô. Ông cưu mang cô từ đấy.

Diệu Nương sống nhiều tháng trong nhà thờ, kề cận cha xứ, y như thể cô là một ma-xơ hay là một người bõ, một người bõ đàn bà. Sống như thế tất nhiên là trái lẽ song giữa hỗn mang đại loạn của thời cuộc lúc bấy giờ thì chẳng điều răn nào là còn hiệu lực, chẳng lề luật nào mà không bị nới lỏng.

Về sau, khi đã bỏ ra sống ở túp lều ngoài rìa làng, Diệu Nương vẫn thường lẻn về nhà thờ với cha. Để xưng tội, chắc thế nếu cô là giáo dân, và tiếp tế cho cha bằng những tặng phẩm mà hàng đêm người này người khác vẫn lén lút đưa tới dấm dúi biếu xén cô. Ấy là những thức họ san sẻ ra từ khẩu phần lính mỗi ngày, hoặc là những đồ nhu yếu họ quơ được khi thu chiến lợi phẩm. Diệu Nương nhận quà cáp và ngủ với tất cả, khi thì ở trong lều, khi ở ngoài bờ sông trên bãi cỏ dưới trăng mờ.

Cô là đồ đĩ rạc, song từ bao giờ cô đâm ra thế, cô không nhớ mà mọi người cũng vậy, không nhớ không biết. Không lẽ từ ngày được giải phóng, được đổi đời, cô trở thành đồi bại?

Rất có thể bản tính Diệu Nương hư hỏng sẵn rồi.

Chẳng vậy mà thiên hạ đồn cô gốc gác “thiên nga “? Ngủ với cô rồi, giữa hai chầu rượu nhiều kẻ kháo nhau về cô, bảo cô là cái ổ của những tật bệnh xấu xa.

Riêng tôi, mà có lẽ chẳng riêng tôi, không coi nết lang chạ của Diệu Nương là hư đốn hay đồi bại gì sất. Đến với Diệu Nương tôi đã được hưởng những phút chưa từng được hưởng bao giờ ở quê nhà ngoài kia.

Nhiều năm qua rồi mà tôi vẫn không muốn quên và thực ra thì cũng không thể nào quên nổi. Bần thần, ký ức tôi mơ màng mộng tưởng ra trước mắt hình bóng của Diệu Nương, khi Diệu Nương một mình đi trên đường vắng, dáng đi mềm mại uyển chuyển đung đưa toàn thân, hay khi cô thẫn thờ ngồi lặng bên sông, hay là khi…

Những khi ấy, trái tim rộn ràng kinh hãi, tôi từ ngoài đêm rẽ manh chiếu Diệu Nương dùng thay mành cửa, bước vào trong lều tối đen.

- Lại đây, anh lính của em. Đừng sợ. Chỉ có mình em trong này thôi.

Tôi bước tới một bước và bất ngờ chạm vào một cái gì đó tuyệt vời, một cái gì đó nóng hổi, mềm mại, dập dờn, một cái gì đó không thể diễn tả. Và ngay lập tức tôi bị du vào một địa ngục ngọt ngào.

- Bạn tình của em, anh tên là gì? Có phải lần đầu anh tới với em không?

Tấm thân óng ả của Diệu Nương mà đời sống cơ cực vùng giải phóng chưa kịp hủy hoại đượm một vẻ gì thật quá đỗi đàn bà, đàn bà hơn tất cả những người đàn bà khác nhập lại. Không chỉ những cái vuốt ve của cô, không chỉ có những lúc cô xuất thần thác loạn, tận lực nồng nàn âu yếm, cô rên rỉ, cô giở trò, cô im lặng hổn hển mà cả khi đã nguội đi, mệt nhoài bải hoải, ở cô vẫn dào dạt ma lực của tội lỗi đàn bà.

- Anh đã đi à, đã đi rồi sao? - Cô níu tay tôi - Còn lâu mới sáng. Hãy nán lại một lát đã anh. Em còn muốn ngỏ với anh điều này. Chỉ một điều này thôi…

Nhưng không mấy ai chịu nán lại. Càng không ai muốn nghe cái điều duy nhất mà Diệu Nương mong được thổ lộ với người bạn tình thoảng chốc. Không ai muốn nghe bởi không ai có thể làm gì cho điều mong ước ấy của cô. Nó quá tội lỗi, quá đáng sợ, lại hão huyền. Có lẽ Diệu Nương tưởng đâu rằng trên đời này vẫn còn sẵn lắm những kẻ điên rồ dám vì tình mà liều mạng và vì tình mà cả gan làm phản.

Nhưng để lần sau lại có thể đến với Diệu Nương, nói chung chẳng ai dại gì làm cô mất hy vọng, người ta cứ hứa, hứa đại. Lời hứa gió bay.

Bởi vì ai cũng vậy cả nên chẳng ai ngờ rằng ấy thế mà vẫn có kẻ giữ chữ tín với Diệu Nương. Y hứa sẽ giúp cô và y đã y lời.

Về sau, khi sự đã rồi, mới nghe nhiều người bảo rằng thực ra trước đây khi còn ở bộ binh Tuấn đã có nhiều dịp ghé làng Diêm và vì thế đã quen Diệu Nương từ hồi ấy. Hồi ấy cánh cao xạ chúng tôi chưa về lập trận địa ở bờ sông A Rang và Diệu Nương hồi ấy vẫn đang dung thân dưới mái nhà của vị linh mục.

Người ta kể rằng làng Diêm dạo đó đói dài. Một chút ít lương thực được bộ đội cứu trợ cho hồi mới giải phóng đã cạn. Chính quyền cách mạng ra lệnh tăng gia tự túc. Cả nhà thờ cũng phải tự liệu lấy kế sinh nhai.

Bởi vì một vị linh mục thì không đời nào lại chịu phận cày cuốc, Diệu Nương phải lo làm lụng cho cả hai. Cô theo những người đàn bà trong làng đi phát nương trồng sắn. Nhưng không quen nhọc nhằn, cầm rựa chặt được một nhát là lại một lát cô cám cảnh ngồi ôm mặt sụt sùi. Gần trọn một ngày mà đám nương của cô vẫn y nguyên cây cối lùm bụi.

Bấy giờ có một tốp mấy người lính dừng chân mắc võng nghỉ ở ven sông và họ đã chứng kiến cảnh ngộ của Diệu Nương. Thoạt đầu họ cười nhạo, chế giễu và thương hại thay cho cái giống đàn bà gốc ngụy chẳng khác chi người giấy, quen thói lười nhác, chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, bây giờ đây mới được biết thế nào là mồ hôi nước mắt một kiếp người. Nhưng dần dần tình cảnh khổ sở của Diệu Nương nhói vào lòng những người lính nỗi thương cảm. Họ rời võng, đi tới bên cô, họ an ủi và đề nghị được ra tay giúp đỡ cô.

Và vậy là từ đầu tối tới cuối đêm, mấy chàng bộ đội xoay trần đốn cây cho nhà chung. Họ phát quang cả một vạt rừng. Lúc từ giã, một người trong tốp bộ đội xưng tên là Tuấn. Anh hứa dăm hôm nữa sẽ trở lại giúp Diệu Nương đốt rẫy. Và anh đã giữ lời.

Rẫy của Diệu Nương được đốt gọn và sạch nhất làng, cháy đều, khốn gót một thân cây nào cháy dở dang. Chia tay, Tuấn lại hẹn ngày về cùng Diệu Nương vùi hom sắn.

Cơn mưa đầu mùa, sắn lên xanh non và chẳng bao ngày mà lá sắn đã phủ kín rẫy. Quanh rẫy, Tuấn gieo thêm hạt bầu và trên vạt đất phía sau nhà thờ Tuấn giúp Diệu Nương mở một vườn rau.

Và cứ vậy, không hiểu xoay xở cách nào, cách năm ngày, cách mười ngày, từ chốt vùng ranh ven thị xã, Tuấn băng đồng cỏ về làng thăm Diệu Nương.

Cũng thời gian ấy Diệu Nương rời nhà thờ ra ở túp lều mà Tuấn đã dựng cho cô nơi rìa làng. Hình như nhờ có Tuấn, Diệu Nương đã mất đi cái vẻ não nùng của những ngày mới được giải phóng. Người ta thấy ánh mắt cô long lanh và đôi khi người ta thấy cô mỉm cười.

Có những lần, từ chốt Tuấn lẻn về với Diệu Nương mang theo cả cây ghi ta. Anh đàn khẽ cho Diệu Nương thầm thì hát. Hồi ấy cô chỉ hát nho nhỏ thế thôi, nồng nàn, giữa hai người với nhau.

Chắc là giữa hai người đã có sự thề bồi. Chắc là Diệu Nương đã thổ lộ điều ước nguyện da diết nhất của cô. Cô ước được thoát kiếp sống cày cuốc cực khổ ở chốn gian lao xa lạ này, cô ước được người đáng tin đưa mình vượt qua chiến tuyến trở về với quãng đời êm ấm thân thuộc trước ngày được giải phóng.

Với Tuấn, vượt hơn mười cây số với những bãi mìn, những điểm chốt chặn không phải là điều không thể. Thêm nữa, ấy là những ngày mở đầu Thời Hiệp định, những ngày bỗng dưng đất trời yên lặng. Mùa khô mà vắng bặt tiếng máy bay và tuyệt nhiên không một phát đại bác.

Say đắm ái tình và bốc đồng hy vọng thái bình, Tuấn đã hứa hẹn. Hứa thật lòng, có lẽ. Chỉ có điều là bỗng nhiên anh biến mất. Năm ngày, rồi hàng tháng trời trôi qua, biệt âm vô tín, Tuấn không trở lại làng Diêm.

Từ đó, lặng lẽ Diệu Nương trở nên ngẩn ngơ và âm thầm cô trở thành sa đọa. Cô chẳng hề nói gì với ai về Tuấn. Hình ảnh của anh và lời hứa của anh có lẽ đã tàn trong tâm trí cô. Duy có khát vọng tự do thì vẫn sống, vẫn lay lắt. Niềm ao ước cô từng thổ lộ với Tuấn biến thành tiếng hát cất lên dài dại mỗi sáng mỗi chiều. Và đêm đêm Diệu Nương vẫn tìm kiếm những hứa hẹn viển vông, mỗi ngày một viển vông hơn theo đà chiến sự càng ngày càng tàn bạo. Bom đạn tơi bời tàn phá làng Diêm, phũ phàng quét sạch mọi manh nha của hòa bình.

Cho tới một đêm nọ, một đêm mưa, trên đường mò vào nhà thờ với ông cha cố, khi đi tắt qua vườn rau gần lán của những người lính anh nuôi, Diệu Nương chợt nghe thấy văng vẳng tiếng đàn. Lẳng lặng cô đi gần tới, ghé nhìn qua các bụi cây. Đèn dầu lập lờ mờ tối. Diệu Nương không trông thấy người đang đàn, nhưng điệu đàn quen thuộc của những đêm xưa giúp cô nhận ra người ấy.

Thất thần, vô tri giác, Diệu Nương từ từ bước tới cửa lán. Bất ngờ, con Ních từ góc lán chồm lên, sủa vang.

- Ai? Cù vùng khỏi võng, chộp lấy súng, hét.

Diệu Nương lùi lại một bước, và khi tiếng đàn trong lán vụt tắt, cô xoay người chạy.

Cù lao ra cửa. Mưa đổ ào ào trước mặt anh.

- Thám báo! - Cù quát - Đứng lại!

Dưới một nhoàng chớp bóng Diệu Nương hiện thoáng lên, rũ rượi, xiêu đảo.

- A! Con đĩ! Đứng lại, tao thì giết!

Cù gầm lên, phóng mình ra mưa va trượt chân, anh ngã sấp. Nhổm phắt dậy, điên tiết, Cù nâng súng quạt cả một tràng theo tiếng chân đang chạy chấp chới phía trước. Tuấn xô tới, giật súng.

- Thằng ngu xuẩn! Đồ nông nô!

Tuấn gào, khản đặc, và mê muội đấm vào mặt anh nuôi trưởng. Anh quăng khẩu AK xuống vũng bùn cạnh Cù rồi lao mình vào mưa đêm đen đặc đuổi theo Diệu Nương. Khắp làng ran lên kẻng báo động. Du kích từ nhiều ngả ập tới.

Bình vực Cù vào lán.

- Bọn du kích tới, mày bảo là không có chuyện gì nhá - Cù lấy ống tay áo lau khuôn mặt ròng ròng nước mưa và máu, nhổ cái răng cửa bị gãy và khó nhọc bảo với Bình - Nói với chúng là tao mê hoảng bắn bừa… Rồi mày đi tìm xem hai đứa chúng nó ra sao rồi…

Anh thở dài:

- Mà tại sao con đó nó lại vùng chạy cơ chứ, hả?

Rất lâu sau này, kể lại chuyện đêm ấy, Bình ngậm ngùi bảo với tôi:

- Giá kể con đó nó không dính đạn, hai đứa chúng dắt nhau trốn đi ngay trong đêm ấy thì không chừng đã thoát được rồi cũng nên.

Giờ đây ngẫm lại, tôi thấy trong toàn bộ tấn thảm kịch xảy ra hồi đó Cù là nhân vật không tài nào ai hiểu nổi. Chính anh đã cố tình xả súng bắn Diệu Nương, lại cũng chính anh suốt một thời gian dài đã giúp vào việc chăm sóc cô. Cha xứ chỉ chịu hé cửa tu phòng cho một mình Cù. Bông băng, thuốc men, đồ ăn, ông chỉ nhận nếu là do Cù đưa sang. Tuấn bị ông cấm cửa.

Cù và Bình không hé răng hở chuyện. Toàn đại đội không ai biết Cù đã bắn bị thương Diệu Nương. Cũng không người nào hay có vụ xô xát giữa Cù và Tuấn. Càng chẳng ai ngờ có mối tình nung nấu mà mơ hồ giữa Diệu Nương và Tuấn.

Đến kỳ thay phụ bếp, Cù xin đại đội cho tổ anh nuôi được giữ Tuấn lại.

Bỗng nhiên, Diệu Nương biến mất. Không nghe thấy tiếng hát của cô nữa. Túp lều ở rìa làng bỏ chơ vơ, trống huyếch, xiêu mọp, ngập cỏ. Người ta đồn rằng cô đã bỏ trốn. Hoặc đã chết. Chết đuối, trôi mất xác. Cũng có thể là chết tan xác vì trúng phải một trái bom, trái pháo giáng trực tiếp xuống đầu.

Mùa mưa năm ấy dài đằng đẵng, buồn ê ẩm. Dần dần tôi thầm hiểu tôi buồn vì nuối tiếc Diệu Nương. Mà không riêng tôi, cả đại đội đều rầu rĩ. Dường như, mất bóng Diệu Nương thì chúng tôi chẳng còn lý do gì để bám lại trên mảnh đất này.

Đột nhiên vào ngày nắng hửng đầu mùa khô, chúng tôi hay tin Diệu Nương vẫn còn sống. Suốt mùa mưa cô ẩn trong nhà thờ để chữa trị vết thương. Nay cô đã gần khỏi. Chỉ có điều nay cô mới thực sự đã bỏ trốn.

Người thông báo cho chúng tôi tin đó chính là ông linh mục. Ông ta lần ra trận địa pháo vào lúc tảng sáng, cái áo chùng ướt đầm sương.

- Người của các ông đã cám dỗ cô ta. Cái tên mặt sẹo, dáng vẻ lầm lỳ ấy. Hắn đã bội phản các ông, lại kéo cô ta phản Chúa.

Ông còn cho biết ông đã báo cho Cù ngay khi phát hiện Diệu Nương trốn đi với Tuấn, nghĩa là ngay từ nửa đêm. Vậy mà Cù đã không hề báo cáo gì cho đại đội.

Anh ta đứng đấy, đầu trần, răng nghiến lại nghe chính trị viên xỉ vả.

- Theo tôi, để cho họ đi! - Cù nói, sa sầm - Còn nếu nhất định phải bắt lại thì chẳng khó. Vết thương cô ta chưa lành hẳn, không thể đi nhanh. Với lại, có con Ních…

Tôi có vinh dự tham gia nhóm tác chiến cùng Cù và hai trinh sát viên. Chúng tôi khẩn trương xuất kích. Con Ních thoăn thoắt chạy dẫn đường, kéo căng sợi dây da trong tay Cù.

Chúng tôi lặng lẽ rảo theo. Hàng dọc, súng lăm lăm. Lệnh trên là kiên quyết không để chúng trốn thoát mang theo bí mật về cuộc hành quân sắp tới của đơn vị.

Chỉ lạ là không hiểu sao dấu vết con Ních dò theo không nhằm về thị xã mà cứ men mãi bờ sông A Rang, ngược lên mé tây đồng cỏ. Phía đó chỉ có rừng rậm.

Ý chí đuối dần. Chúng tôi lết đi chậm chạp. Bụi bốc lên dưới chân. Nhiều giờ trôi qua. Con Ních vẫn cần mẫn lần theo dấu vết vô hình lượn ngoằn ngoèo.

Chính vào lúc chúng tôi đã nản, tính chuyện quay về thì hình tích của hai kẻ trốn chạy đã thực sự hiện ra.

Dưới tán một cây kơ-nia mọc đơn độc giữa trảng cỏ tranh, Tuấn và Diệu Nương đã nghỉ chân. Đàn kiến đang tha đi những vụn cơm. Một mẩu thuốc rê vấn bằng giấy báo. Nhưng đặc biệt rõ ràng, hằn trên cỏ, như thể cỏ đã tạc nên thân hình người đang nằm. Một bức họa khắc nổi dáng vóc đàn bà, không thể nhầm được…

Chúng tôi đuổi kịp họ trước lúc mặt trời lặn. Đã chớm tới vạt rừng đầu tiên ở bờ tây đồng cỏ.

Mệt nhoài, chúng tôi dừng lại trước một dòng suối lớn. Con Ních bị dòng nước xóa dấu vết. Chúng tôi ngồi xuống nghỉ. Im lặng đè nặng lên buổi hoàng hôn màu hồng thẫm.

Thốt nhiên, giữa sự im ắng và tiếng rì rầm của dòng suối, lướt nhanh qua không gian một âm thanh bất ngờ giống như một gợn sóng mỏng.

- Tiếng đàn! - Cù khẽ thốt lên.

Chúng tôi sững sờ, lắng nghe, hồ nghi. Đã tưởng chỉ là một cảm giác sai lạc, không dè sau một lúc nín thở chờ đợi, chúng tôi nghe thấy khe khẽ tiếng hát.

Lội mau qua suối, chúng tôi nhẹ chân tiến tới. Đấy là một dải rừng thông. Những cây thông cao vút, mọc cách thưa. Một tà khói mỏng bốc lên trong chiều. Chúng tôi khom rạp xuống, áp sát.

Một tiếng cành khô gãy dưới chân. Tiếng hát tắt lặng.

Tôi đứng thẳng lên sau một thân cây và căng mắt quan sát. Một cái bếp nhỏ với chiếc hăng-gô treo đung đưa trên lửa. Một chiếc võng dù căng giữa hai cây thông.

Im lặng kéo dài, kéo dài mãi. Tôi gạt chốt AK vào nấc liên thanh.

- Các bạn… Anh em ơi… - Giọng Tuấn - Chúng tôi chẳng làm hại gì cả… Không chống lại ai… Hãy để chúng tôi đi…

- Câm mồm! - Bào, trinh sát viên hét - Đứng dậy! Giơ cao hai tay. Bước ra!

Một phút. Nhiều phút. Vẫn lặng phắc. Cù buông sợi dây da. Tôi thấy con Ních chạy xéo qua, và lát sau tôi nghe tiếng nó sủa ở bụi cây. Tiếng sủa rối rít, mừng rỡ.

Nhưng cũng đúng lúc đó, bụi cây lay động.

“Trong cuộc huynh đệ tương tàn…” - Tiếng hát.

- Đồ điên! - Cạnh tôi, ai đó gầm lên - Con đĩ! Này thì tương tàn!

Và tức thì súng nổ. Một khẩu nhả đạn kéo theo những khẩu khác cùng khạc lửa. Chớp đầu nòng nhằng nhằng xé rách lượt bóng tối đầu tiên đang phủ xuống khu rừng.

Bốn khẩu AK cùng bắn hết băng, cùng câm bặt. Bốn chúng tôi cùng lao vọt lên, cùng chết sững.

Sau bụi cây bị đạn băm, hai con người ấy quấn lấy nhau. Những vết đạn như càng vặn xiết hai cơ thể vào nhau. Vào chớp mắt cuối cùng, người đàn ông dường như đã cố dùng thân mình đỡ đạn cho người đàn bà. Nhưng đạn khoan qua người họ. Ánh lửa từ bếp lấp loáng trên hai mảng lưng trần.

Chúng tôi đứng chết trân. Màn đêm vây dần lại. Cả bốn chúng tôi như bị trói vào nhau trong sự cam chịu một cái gì vô hình vô tận đang đổ xuống. Mùi thuốc đạn là dấu vết duy nhất của ý chí điên khùng, đã tan đi.

- Ê… ê… Ních! Ê… - Cù tru lên gọi con chó đã bị trận mưa đạn xua dạt vào rừng sâu.

Ngồi xuống bên Tuấn và Diệu Nương, tôi gỡ họ ra khỏi nhau.

Hai hôm sau chúng tôi nhận lệnh hành quân về phương Nam. Vĩnh viễn giã từ làng Diêm. Tôi đã bình tĩnh trở lại. Cả Cù cũng vậy. Cuộc chiến đấu đang đợi chờ phía trước sẽ là lối thoát cho tâm hồn chúng tôi. Chúng tôi sẽ chiến đấu và sẽ quên.

Mùa khô nung vàng đồng cỏ. Và những ngọn gió dại gào hú làm bốc lên những cột lốc đỏ lòm. Những ngọn gió điên rồ như có móng vuốt, cào xé mặt đất.

Chúng tôi chỉ không ngờ rằng chúng tôi đang tiến vào mùa khô cuối cùng của cuộc chiến. Chúng tôi đã bắn chết những người báo trước hòa bình, vậy mà hòa bình vẫn đến.

Untamed Winds

“Listen! It is Diệu Nương’s voice.”

Although several months, or years, have now passed since Diệu Nương was shot to death, the people of Diêm Village still hear her voice. Each dawn, half-asleep, they tell each other to go looking for her, as though the past speaks to them again.

I wander through life without a past,
Ashore, I dream, awaiting your footsteps.

Dawn comes quietly, and the Morning Star, more luminous and loftier than ever above the grasslands, burns through the unblemished heavens. Before the sun rises, along the fertile prairie, fog and darkness uncoil and fade away. It is in this faint light that a village gradually reveals itself.

A long scar on Road 14. A clump of tin-roof shanties. A church.

The incessant crowing of roosters and the water wells’ creaky pulleys awaken Diêm Village. The village, opening its eyes, rises alone, marooned on this boundless and forsaken land. On the other side of the plain, inside the South Vietnamese Army Corps II military base, the 105 mm M102 howitzers lie silent. Nowhere on the horizon can the Cessna L-19 Bird Dog be spotted. One lonely supply truck hurries across the A Rang River that runs through the village, splashing circles that gradually die away on the calm water. It is the dry season.

Throughout the night, Road 14 was swarmed with military trucks and troops marching by the church through the village. By dawn, they were all gone. Now the streets are empty. On a dirt road veiled by fog, oxcarts carry farmers to the field—the sound of wood clopping as their wheels turn over the ground. Here and there a scatter of fog-enshrouded houses with tin roofs, the smoke from their hearths vanishing into the air. Somewhere beyond the layers of fog, as the dim sky kisses the riverbank and the grassy plain farewell, a soulful voice lifts up through the air with help from a dying wind.

I wander through life without a past.

Some time ago, while the church bell rang its Catholic parishioners to morning Mass, the bell tower was hit by an artillery shell. No sound has been heard from it since. Bomb craters now pockmark the churchyard, but no one cares to fill them. Thorny, overgrown bushes sprout wildly along the footpaths. Every morning, on the stone steps leading to the front door of the church, a Catholic priest in his black cassock quietly leans against the entrance and gazes toward the rising sun.

The priest’s heart is heavy with sorrow, as though charged by an almighty power. He quickly makes the sign of the cross, shrugs, then bows his head with closed eyes. He sighs to himself.

In the distance, a soft, yolk-like golden sun leisurely climbs the low eastern hills of the plain. The sunlight, cascading down the horizon, turns the sky a magnificent blue. At the start of this new day, Diệu Nương’s voice seems to grow and resonate everywhere like a hymn, indistinct from the melody of creation.

The adults of the village are appalled when children sing along with Diệu Nương.

Meanwhile, on the far side of the river in an anti-aircraft battery that protects the underwater passage for vehicles, artillerymen prepare for a daylong battle. Suddenly they stop working. They give up surveilling the sky and train their binoculars on the village.

Oh, unholy moon…

“Look, it’s her!” a soldier cries out, pointing his finger at an apparition.

Everything looks unfocused through the lens of the binoculars. There appears to be a woman singing beyond the undergrowth covering the narrow road that circles the village. Her hair spills down her slender body as she gracefully moves, a mirage created in song, a ghost, however enchanting and animated, who can vanish inexplicably without a trace. The real and the fantastical blur into one another, sounds and images indistinguishable. The legend of Diệu Nương, a Saigonese singer who was trapped in the liberated zone, is a daily topic of interest to the men of this artillery battalion, with each man embellishing the legend in his own way. Standing on the roof of the communications bunker, the commander of the company and the political instructor pass the binoculars back and forth.

Wander through life!” the political instructor says, repeating the words from the song. He frowns, pulling down his binoculars. “We’d better shut that whore up or the entire company will be seduced by her voice. She’ll trick our men and lead them astray.”

“But how can we get her to stop?” the commander asks, shrugging his shoulders.

“We’ll find a way,” the political instructor says. “No saccharine songs, no anti-revolutionary songs, no ngụy songs.”

“But Trịnh Công Sơn wrote that song.”

“That makes no difference. I don’t know why she always sings around this time. Is it a signal to someone? A way to lure our men into her bed, so they lose their will to fight? Is that what she’s doing?”

“But her voice is divine.”

Past the river, a group of infantrymen walk through fields of feathery cogon grass, their weapons glinting light. The man at the very back stops, turns his head around, and looks back toward Diêm Village.

Vapor rises from the ashen waters of the A Rang River. A song carried by the wind fills the soldier’s heart and sends a chill down his spine. Her voice is clear, as though bathed in the unspoiled morning, but in its echo a sound more sorrowful, an expression of the land’s primordial spirit. The voice is unbridled, just like the boundless land, free, its hymn spreading to unreachable vistas, over fields that know nothing of war and struggle, death and slaughter.

How sad that rootless singing! How sea-deep that sorrow!

Despite how often people embellish or glorify the legend, Diệu Nương’s life still remains a mystery. Many were certain that she came to the A Rang River in the summer of 1972, after the Liberation Army launched their attack on Saigonese troops and forced them to retreat. Before that, very few people knew who she was, where she came from, or even her name, and those who claimed to know about her told unfounded stories. Even Diệu Nương, having forgotten everything about herself, didn’t know who she was.

She had no clothes on when she first came here. I heard the same thing, and that during the Easter Offensive of 1972—during the Red Fiery Summer—she wasn’t the only one to witness horror. Humans are like trees and grass. War, like fields set ablaze, can burn us to ash in a single moment.

Many people were killed back in 1972. Corpses were found lying everywhere in the streets, in the grassy fields, and even floating on the river. Those who survived the catastrophe looked more dead than alive. The land was left in ruins, the village a shadow of itself.

Before that tragedy, the village was bustling and prosperous; houses crowded each other. The village lay about ten kilometers from the town, as the crow flies, when the Americans defended it. Men from the village enlisted and were paid for their military service; women sold things at the market. The entire village was religious and went to church. But then the thriving village, under the Americans, was reduced to rubble.

Distant cannons pounded the village every day, and planes dropped bombs on its river and fields. The iron bridge crossing the A Rang River was destroyed. The bombardment intensified after sappers began transporting rocks to build the underwater passageway. Life was disrupted.

By the middle of 1973, the NVA anti-aircraft Battalion 17 arrived to defend the underwater passageway of the A Rang River. Three anti-aircraft companies were stationed on both sides of the river to fight against the South Vietnamese Air Force. At the time, my company was stationed alongside Diêm Village, ghostly back then, and everywhere covered with weeds, thorny bushes, and piles of shattered bricks and broken poles. Here and there in the rubble were collapsed huts and shanty houses. Dogs scavenged in mountains of garbage, where the refuse of some previous existence lay exposed: torn, colorful clothing, tattered dresses, leather scraps and plastic, shards of broken glass, household possessions, and even human and animal bones the dogs had dug up and ravaged.

After that, the population of the village dwindled and its wounded inhabitants were displaced. Not many men survived and those who did were ignored or forgotten — disabled veterans who became blind and miserable cripples. Only children and women were seen outside the home. The children were emaciated and left without clothes. The war widows, whose backgrounds and origins remained a mystery, were skeletons in rags. The people now living in Diêm Village, for the most part, were not the original inhabitants. In the summer of 1972, they had migrated from surrounding towns, villages, and military districts by following Road 14, reaching as far as Diêm Village before tanks of the Liberation Army stopped them. And it was here, one midnight, that many were massacred.

As the story goes, when they heard the roar of a Dakota transport plane overhead, the terrified refugees took up thousands of torches and howled at the Noah’s Ark hovering overhead. In the churchyard, the villagers made an enormous fiery cross. Nobody heard the sound of the aircraft as it disappeared, dropping flares that lit the horizon like lightning. The airstrike lasted until early the next morning and countless people, their cries drowned out by the sounds of war, died. By a stroke of luck, Diệu Nương was among those who survived.

Afterward, the survivors became Diêm Village’s new inhabitants, with little choice but to start new lives there. They didn’t complain about their new reality, their struggle toiling the fields, or their hunger and misery. Everybody had to follow the rules established by the new Communist government. Those who stubbornly resisted were brought to heel. Some were even shot to death, many more imprisoned.

Diệu Nương was later arrested and jailed by guerrillas. They confined her in an underground cell because she sang ngụy songs. After her release, she isolated herself from society but continued to live on her own terms. She sang as a matter of habit, her voice like a siren’s song. Every night, it is rumored, men came to her dilapidated hut by the shores of the river. They either knocked on her wooden door or raked their hands along her bamboo walls. They brought dehydrated rations with them, satchels of rice, canned meat, cigarettes, sewing kits, mirrors and combs, even saltpeter in the hope that she might take them to her bed. Although there was no proof, Diệu Nương earned the ignominy of being branded a scandalous woman, and because of this, rumors began to spread that she had once been a bar girl on an American military base. Even worse, some called her a prostitute. But it was only hearsay; nobody really knew who she was.

It is said that she had been a famous Sài Gòn singer once. One night in 1972, her band had agreed to perform for the South Vietnamese Rangers Corps, but their final number coincided with the onset of the Communist Red Fiery Summer campaign. North Vietnamese tanks and infantry invaded Tân Trấn. The South Vietnamese defense line was broken, soldiers were slaughtered, and as a result, Diệu Nương’s bandmates scattered everywhere. She followed the stampede of people out and quickly made her way to Diêm Village. She crossed fields raging with fire, her beautiful clothes torn in the process. As the horrific massacre went on that night, Diệu Nương hid under a heap of corpses in the churchyard. She was rescued the next day, her naked body smeared with blood. The event was so traumatizing that it drove her mad.

Diệu Nương’s life wasn’t any better after the Communists liberated the village. Her hands were too delicate to raise a hatchet or hoe; she was too thin-skinned. She had never known hard work in her life, so she was incapable of taking care of herself. Her beauty only alienated her from everyone else. Her singing, during such a desperate time, was meaningless. Poor people were more concerned with survival and having enough to eat.

But at cockcrow each morning and again at sunset, by instinct, she crooned in her sublime voice, mournfully, as though an untamed wind had passed through the bleakest hours of the day. Her songs contained her longing for home, her life as an artist, the spotlight, and her audience. Her youthfulness and beauty had left her the moment she escaped across the front lines and arrived at Diêm Village.

We once had a homeland, a lover …

Many inhabitants of Diêm Village still remember the mournful words of her song. On the evening after the massacre, NVA soldiers were seen parading prisoners through the village, and the captives, shackled in pairs and wearing army fatigues, shuffled with their heads bowed. The soldiers, carrying rifles with bayonets, callously pushed the condemned men forward so that they would quicken their pace past where the villagers lived. On both sides of the road, terrified faces peeked from behind low-hanging doors, searching for relatives among the prisoners, though no villager dared to step outside their homes.

Then, a shadow formed behind a hedgerow beyond the village, and a voice, that of Diệu Nương, began to rise as it usually did at that hour in the day. Her figure emerged from the hedge and followed the condemned men. Her lips trembled, her eyes searching for something familiar to grasp. The prisoners, all male, whose ashen faces looked sunken in the dying light, walked with their backs bent and paid no attention to the apparition. Then an unfamiliar song arose, a voice in mourning. Although the voice was unsteady, the words of the elegy were unmistakable. Diệu Nương continued to sing, hesitantly, through her grief. One of the prisoners joined in with a strong tenor, and soon another followed, until all the condemned men were united in song; her voice was like that of a fleeting kiss across their lips. Now a choir, the soldiers’ singing drowned out the misery of their march, but the guards, with their bayonets lowered, did not silence them.

Villagers crowded both sides of the street. They stood solemnly and watched as the captives were marched down the desolate road that cut through the endless plain, until they vanished into columns of dust. Diệu Nương’s voice, and the ill-fated prisoners’ chorus, echoed behind them into the darkness.

We are brothers at war,
Nothing but worms and ants,
But we once had a homeland, a lover …

Now Diệu Nương is dead. Nobody knows where she is buried or the location of the graves of those who were shot with her. Life goes on without memory as it will, as it always has. Time passes, leaves fall down, and the dry seasons as well as the wet appear and fade, year after year.

Eventually, the church at Diêm Village was destroyed by bombs. Weeds now cover its crumbling walls and steps. In the mornings, ravens squawk in its ruins and evoke people’s memories of the priest. He has left the village, but nobody knows where he has gone.

On the other side of the river, a field that was once covered by anti-aircraft artillery is now full of eroded, horseshoe-shaped defenses. Here and there are bomb craters, which the passage of time has filled up. The worn path that once connected the artillery field with the village has now become an indistinct white line cutting through thick reed beds along the riverbank.

But the soldiers who were stationed here back then still remember the worn path, the same one on which the cook traveled twice a day to carry food to the battlefield. In the evening, especially at its darkest, the men would stealthily enter the village. When they saw officers or MPs, they would hide in the thick reed beds along this same riverbank and listen for the warbling of quails. The evening mist made their shirts wet.

Back then, soldiers, unless carrying out official duties, were ordered to avoid contact with civilians. The civilians weren’t yet educated about the cause for independence, so they were still considered half-ngụy. Military regulations were extremely strict, and if someone violated them and unfortunately got caught, they would be severely disciplined. Soldiers, however, still took risks.

The soldiers and the poor civilians engaged in secret affairs, wearing down the path over time. During the day, only the cooks were allowed to travel on the path, but at night it belonged to all who were drawn by sinful desires. Today, each inhabitant of the village still keeps a memento belonging to the soldiers and treasures these reminders of the brave NVA artillerymen. Rumor has it that the secret consorting between soldiers and the villagers created many close relationships, including love affairs, although most were fleeting and without happy outcomes. But love remained love, no matter the reason.

At that time, two male cooks used to transport supplies to the battlefield. Every soldier had wished to become a sous-chef, Cù’s assistant. In the company, only Cù was allowed to stay in the village, while his two companions took turns every other month.

I am not sure if the bamboo hut, the storehouse, and the kitchen built right next to the churchyard are still there, but if they are then they must be in ruins. Back then, Cù wanted the parcel of land adjacent to the rector’s house, knowing that the location was unlikely to be bombed. The only trouble was having to share the well with the priest, but Cù valued the well because its water was the purest in the village. The priest was young but acted in a dignified way. He was compassionate and more accommodating than the Diêm villagers.

Cù didn’t like the villagers because they were unmotivated and pathetic, as they were recent refugees to the area. They subsisted off the bountiful land, but their transformation into farmers had come reluctantly: they did not want to till the land for themselves, living hand to mouth instead, because they had grown dependent on American aid. The villagers were drawn back to the memory of those years, Cù thought, either as soldiers fighting on behalf of the Americans or as the whores who served them. He found them dishonorable, hiding behind their hypocrisy, charlatans without humility, and because they sympathized with the enemy, he thought they must be biding their time for the right opportunity.

The women were the worst. Cù didn’t understand why his comrades were so easily fooled by them. The entire company, fifty men total, had survived in the jungle for years without any problems, but when they relocated to the village and closer to its women, troubles began to surface. Unlike Northern women who possessed a strong revolutionary spirit, the women here were not as genuine, hardworking, or responsible. In fact, they were not trustworthy at all. Cù imagined Diêm Village as a cesspool of disease.

“Infected women transmit syphilis and other STDs,” Cù warned his subordinates.

Cù was fastidious in selecting apprentices for his cooking team. Many capable men, even if they were quick-witted or humble, were rejected right away. There was one man who looked respectable, but Cù dismissed him back to his unit after only one day in the kitchen, because Cù discovered his true motives.

“If you’re a cook, you prepare food like rice and vegetables every day,” Cù said, “so your hands must stay clean by not touching anything dirty, especially women.”

The villagers were fearful of Cù and nobody was brazen enough to approach the well near his kitchen. If they got along with his assistants and wanted to barter goods or ask questions, they would have to wait until Cù himself went to the battlefield to deliver food.

Twice a day, once in the morning and again in the late afternoon, one of the apprentices would stay behind while Cù and his other assistant distributed cooked meals to the artillerymen. Ních, a mangy but eager Laotian hunting dog, usually led the way. They slogged down Road 14 and turned onto a crooked road that went past the clay-walled and tin-roofed huts of the village, plodding along like hunchbacks. They used their hands to brace the bamboo baskets on their shoulders. The baskets, as large as casks and covered in sackcloth, steamed with the smell of delicious food.

Seeing Ních, the other starving village dogs would run away and hide in the debris without barking. Only poor children, barely clothed, couldn’t resist the smell of food and followed the cooks.

“Mister, Mister …” they squawked like ravens.

“Hey, little ngụy,” Cù barked back. “Get lost!”

But if a boy was persistent enough and followed them to the outskirts of the village, Cù would stop and beckon him over, then give the boy some baked manioc, boiled corn, or even a piece of dried fish.

“Here,” Cù said, “this is for you. That’s all I have. We soldiers eat manioc and wild vegetables, so we don’t have much to hand out for free, you know. You should be grateful for our revolution and learn how to farm for yourself to put food on the table. Go tell your mother that. Don’t just lazily wait around for food to magically appear in your mouth. The revolution will liberate you, but remember that it won’t come easy. Our revolution will take a long time, probably until I die, and probably until you die, too …”

(I hear that even now Ních can be seen trotting down the same street. He goes to the riverbank and noses his way around some rusty-green 37mm shells, then jumps into a ditch with an anti-aircraft gun covered in cogon grass. He looks at the rushing river.)

Sometimes, seeing the figures of Cù and one of his two apprentices hauling baskets on their shoulders as they headed down the road with the old, orphaned dog, a village boy would cry out to Cù, “Mr. Cook! Mr. Cook!”

Ních was familiar with this well-traveled path, always going into the village at either dawn or dusk. Nobody dared to pet him. Several villagers who had heard the rumors about Diệu Nương’s death believed it was the dog that killed her. Others, who knew even less, were afraid of the dog; they felt a nebulous sense of life’s journey coming full circle, one we are condemned to repeat, until we are driven blind and mad.

Once, according to the routine, Battery 3 and Battery 4 each sent a soldier to be assistant cook; they would replace Bình of Battery 1 and Tuấn of Battery 2. This situation was unusual, however: Cù let Bình go but kept Tuấn, explaining to the company commander, “Tuấn knows how to do his job well. He might even take over for me.”

Tuấn, originally an infantryman, had been severely injured. He could have returned to the North but was talked into voluntarily staying instead. He didn’t return to his original unit. In fact, he was transferred to the anti-aircraft battalion. He had been with my company for half a year and became Gunner 3 of Battery 2.

Tuấn was lanky, with yellowing skin and a prominent Adam’s apple. He had a formidable scar caused by a bullet, which started at his ear and carved its way to his chin, causing his mouth to look lopsided. Although Tuấn was from Kinh Bắc, he was reluctant to speak and only talked when provoked. Living among boisterous artillerymen, he chose to stay silent—not joining in conversations. He didn’t laugh or show any anger. What moral claim was he staking? Tuấn couldn’t care less about the Douglas-A1 Skyraiders that swooped low to the ground and dropped bombs, or the mortars that hit defensive forts. His apathy, it seemed, suited his occupation perfectly. As a gunner who shot down Skyraiders on their bombing runs, he was just doing his job. His only responsibility was to remain calm and indifferent while operating the rangefinder that measured the speed and altitude of aircraft.

“Shooting down airplanes gets so dull,” Tuấn told me once. “It’s not as exciting as being a foot soldier.”

“Well,” I answered, “it’s because you’re always assigned to Battery 3. Maybe you can ask the battery commander to switch with me, and join Battery 2.”

“I’m just making small talk,” he said. “I always follow orders, so I probably shouldn’t ask.”

“If you hate combat so much, why don’t you go back to the North?”

Tuấn shrugged his shoulders.

“Is some girl ignoring you?” I went on, “Or did someone just tell you your wife is cheating with a soldier back home?”

“Well,” Tuấn replied, twisting his mouth, but said nothing else.

In fact, nobody knew whether Tuấn was a bachelor or not. Even his political advisor knew little about him except for a few details. Tuấn never volunteered information about himself to anyone. Nobody ever caught him writing or reading a letter. He sat quietly at meetings, and barely uttered a response when called on. But Tuấn was gifted at the guitar and, unlike the rest of us, he never had to sway his body or tap his feet to the rhythm when he played. He didn’t whistle or hum to keep a tune and strummed mostly to himself. He didn’t give a damn who listened.

“What song are you playing, Tuấn?” I asked once, and he simply just grunted in response.

When he became an assistant cook, he took the guitar with him. It was beat-up and covered in scrapes but gave out a marvelous sound. As the story goes, the guitar had been with him since he enlisted, but nobody knew how he was able to carry it around for so many years.

Tuấn usually went into the village in the morning, and by afternoon, he and Cù were transporting cooked meals to the battlefield. One day, I saw him carrying on his back a hot pot of soup in a bamboo basket.

“Do you find this job hard, Tuấn?” I asked.

“Yes,” he replied.

“What do you think of the women from Diêm Village? Are they like what the other men say?”

“Well …”

Tuấn answered my questions without much thought. He was someone who followed orders and rarely showed enthusiasm or contempt. He didn’t mind the work and never complained, hardly saying a word, devoting himself instead to the task at hand.

Cù disliked Tuấn at first because Tuấn kept to himself, but Cù eventually got used to it. He didn’t consider it a shortcoming. A cook, in fact, had to constantly pay attention and had little time for small talk or airing grievances.

According to the lunar calendar, it was early May, when it often rained at night. The rising waters of the A Rang River flowed into the plain, and the sky overhead roared with thunder. It was on these nights, after a long day of preparing and serving food, that the three cooks had time to themselves. They showered, rested up, and engaged briefly with one another in conversation before lying down in their hammocks. Cù would pull out a bottle of home-brewed alcohol, and each had a glass while listening to Cù give them their work assignments for the following day. During this leisure time, Cù and Bình played cards while Tuấn tuned his guitar and strummed for them. Bình whistled along to Tuấn’s music and Cù, dropping his playing cards, would quietly turn around to listen. The men recognized the tune because it was a tune they had heard many times before: I wander through life without a past… . Outside, the rain fell ferociously, turning the air inside the barracks damp. Yellow light flickered from the oil lamp. A soldier’s life, like a sigh, was full of sorrow and boredom.

Cù’s kitchen and the priest’s house faced each other, with a vegetable garden dividing them. They also shared the water well and the same path into the village. The priest’s house resembled a cave and had floors and walls that were partially underground. Four earth mounds formed the four corners of the foundation and protected the house from bombardment. The dwelling had no furniture except for a bamboo bed, a straw mat, a wooden pillow, a bookshelf, and an icon depicting saints. Near the door was a ledge where his Catholic parishioners left food for him every morning. Although he would come out several times a day, the priest rarely ventured beyond the churchyard, remaining instead within the church grounds like a hermit.

One day, however, the priest abruptly left the church and vanished from Diêm Village, coinciding with the day Diệu Nương was killed. Baseless rumors swirled about, and many of the stories and much speculation involving her death pointed back to the priest.

Like Diệu Nương, the priest had also encountered misfortune. On the day he was ordered by the rector to lead the church in Diêm Village, the Việt Cộng launched an attack. The bus that took him from town to the village had barely come to a stop when it was ambushed from the banks of the A Rang River. A defending T54 tank unexpectedly appeared on Road 14 and was immediately fired on by 130mm cannons. The passengers on the bus panicked and ran; church parishioners, who were gathered outside to welcome the new parish priest, were also terrified and scattered.

As the story goes, on the evening of the Red Fiery Summer campaign when the Americans retaliated by raining bombs on the sea of fleeing people, Diệu Nương was discovered lying alongside the priest. It was the priest who pulled her body, naked and covered in blood, from under a mountain of corpses. He was the one who saved her life and took her under his wing. For several months Diệu Nương lived in the church with the priest, as though she were a nun or female churchwarden.

She received many illicit gifts from people which she then handed over to the priest, as though she were a Catholic doing penance for her sins. The gifts included daily food rations taken from the soldiers, or items acquired through plunder. Diệu Nương accepted all the gifts. In return, she took everyone into her bed, sometimes inside her hut located outside the church, at other times on the riverbank or in the grass under the shadowy moon. The men who had slept with her told each other, while drunk, that she was the cause of all kinds of venereal diseases. No one, not even Diệu Nương herself, could remember the first time she gave herself so freely to men. Was it after the Communist liberation of Diêm Village, when her life was completely turned upside-down, that she became so sinful? Or maybe because, as a woman, it is in her nature to sin?

I, along with some others, didn’t consider Diệu Nương and her alleged sinful ways despicable or immoral. When we were in each other’s company, I was able to enjoy blissful moments that could not have happened elsewhere. After so many years, I still cannot forget, or wish to ever forget, those moments. I envision her walking down a deserted street alone, striding confidently, or sitting in solitude by the river. My heart soars and I become terrified when I think of her now, remembering how I had parted the bamboo mat she used as a door curtain and entered her forbidden bedchamber for the first time.

“Come here, comrade,” she had said to me then. “Don’t be afraid. There’s no one here but me.”

I stepped forward and unexpectedly found myself brushing against something warm and velvety, something indescribably buoyant. Instantly, I felt drawn into an unholy temptation.

“Dear comrade, what’s your name?” she asked. “Is this your first time with me?”

She was more woman than any woman. Her faultless soul had not been damaged by the cruelties of life since Diêm Village was liberated by the Communists. The way she touched me, our tortured lovemaking, how she kissed and caressed in the throes of passion, her moaning and playful mewing; even after we were left exhausted there still remained in her a kind of feminine and ungodly power.

That night, she held my hand and said, “Are you leaving now? There’s still time until the sun comes up. Stay here with me. I have something to tell you …”

But no one ever stayed to listen to what she had to say. There was no need to heed her words because we already knew we couldn’t grant her the wish she wanted, perhaps because it was too sinful, terrible, and impossible to speak aloud. Maybe Diệu Nương thought there was someone who would fall so madly in love with her that he was willing to take that risk. But in order to keep returning to her bed, no one was foolish enough to say no, so we made promises to her we couldn’t keep. All the men who slept with her were like that except one person, the only one who truly kept his word, not just a man giving her empty promises, but someone who would actually go through with it.

It was later discovered that Tuấn, as an infantryman, had often visited Diêm Village and had become familiar with Diệu Nương. Our company was not stationed near the A Rang River back then, and she, at the time, was still living inside the church. As the story goes, the inhabitants of Diêm Village were starving when their food supply, given to them by the soldiers after the liberation of the village, ran out. The new revolutionary government that replaced the old American-backed one had ordered everyone to be self-sufficient. Even the Church had to find a way to survive.

Since it was unheard of for a Catholic priest to farm, it was up to Diệu Nương to take care of both herself and the priest. She followed the other village women to clear the land for cultivating manioc, but she had not known the drudgery of work before, so, unable to use a hatchet, she would cry into her open hands instead. The days passed and her plot of land remained unchanged, overgrown wildly with shrubs and trees.

One day, a nearby group of soldiers resting in their hammocks by the river saw her situation. They laughed and ridiculed her at first, the worthless ngụy woman—a lazy, good-for-nothing—who was only now experiencing what it meant to do punishing work. But they eventually came around and began to sympathize with her plight—however pathetic—and got off their hammocks, approached her, and offered to help.

From dawn until dusk, the soldiers hacked down trees and cleared the land for Diệu Nương. When it was time to say goodbye, one of the soldiers, namely Tuấn, promised her he would return and help her burn the weeds. Tuấn kept his word and soon the farm became the most fertile in the village. No unwanted tree was left behind. Tuấn and Diệu Nương parted ways but he gave her another promise: he vowed he would return again to plant manioc. Nobody knew how, but Tuấn managed to visit Diệu Nương every five to ten days. He would leave his unit, which was stationed outside town, and cross the countryside to visit her. After the first rain of the season arrived, manioc trees grew in abundance, turning her entire farm plot the color of jade. Tuấn planted gourds around the farm and helped her set up a vegetable garden behind the church.

Around this time, Diệu Nương left the church and moved into a hut Tuấn had built for her outside the village. Because of his commitment, she no longer had that hopeless look about her, which she had had since the day she was rescued in Diêm Village. People now saw her cheerful side and the joy in her eyes. Now and then, Tuấn secretly left his unit to visit her with his guitar, and when they were together, he would play for her while she sang passionately in hushed tones.

I assume they had made a vow. To Tuấn, Diệu Nương had revealed her deepest desire: she wanted to leave this forsaken land behind, in which she found no comfort, and return to that familiar life she knew as a singer before the liberation.

For Tuấn, crossing ten kilometers with checkpoints and minefields was not an impossibility. Those were the peaceful days after the Paris Accords. No aircraft flew overhead, and no cannons fired. Tuấn was madly in love; he wanted peace, so he made his heartfelt vow to Diệu Nương. Not long after that, however, he unexpectedly vanished. Months and years went by without news of him. He did not return to Diêm Village.

Diệu Nương lost her mind and fell back into her sinful ways. She told no one about Tuấn. Although the likeness of him, his words, eventually faded from her mind, her desire to be free carried on without him. The vow they had shared became an unbridled song every morning and afternoon. Each night she sought empty promises from other men, ringing more hollow as the days passed and the war continued. Diêm Village was destroyed by bombs, extinguishing any spark of hope for peace.

One rainy evening, while walking with the priest on the road to the church, Diệu Nương heard someone strumming a guitar. As she tiptoed forward and peeked through the underbrush, she saw an oil lamp giving off a ghostly glow. She couldn’t see who was playing the guitar, but the melody sounded very familiar and she knew right away it was him. A sort of madness seized her as she slowly made her way to the cooking area. Then, out of nowhere, Ních sprang up from a corner and started barking loudly.

“Who’s that?” Cù shouted. He fell out of the hammock clutching his pistol.

Diệu Nương reeled backwards, and when the strumming of the guitar stopped, she turned around and scurried away.

“Stop!” Cù yelled as he reached the door.

A tempest was raging outside. Under the flashes of lightning, the figure of Diệu Nương, soaked and barely on her feet, appeared.

“Ah, it’s that whore again!” Cù shouted. “Stop running or I’ll kill you!” He chased her outside into the storm, but slipped and fell onto his stomach. As he got to his feet, overcome with fury, he began firing indiscriminately at the moving apparition. Tuấn stopped him by seizing the gun from his hand.

“You fool!” Cù cursed.

Tuấn, letting out a cry, punched Cù in the face without thinking. Then he knocked Cù’s gun down onto the muddy ground and chased after Diệu Nương into the storm.

Alarms blared throughout the village. Guerillas from everywhere rushed to the scene.

“When the men come, tell them we have everything under control,” Cù told Bình as Bình helped prop him up against the wall. Cù’s face, streaked with rain, was covered in blood. Using his shirtsleeve, he swiped at his bloody face and pulled out a broken front tooth. Catching his breath, he told Bình, “Tell them I woke from a nightmare and fired my gun by mistake…. Then go look for those two.” He sighed. “Why did she have to run away?”

Many years later, when Bình told me about the incident, he said sadly, “If she had not been shot that night, she and Tuấn could have escaped together.”

Now, as I look back on the tragedy, I can’t understand why Cù acted the way he did. He was the one who had fired the gun at Diệu Nương, but it was also he who, for a long time after that, secretly helped her. The priest would leave his private room open only for Cù, who brought bandages, medicine, and food. The priest refused to see Tuấn.

Cù and Bình revealed nothing. The rest of our company knew nothing about Cù firing his gun and injuring Diệu Nương. Nobody knew about the fight between Cù and Tuấn or the illicit affair between the latter and Diệu Nương. When it came time to rotate out the cook assistants, Cù requested to keep Tuấn.

That year, the wet season was unbearably long and dreadful. Finally, I realized what was making me so distraught. I couldn’t stop thinking about Diệu Nương. In fact, the whole company looked miserable, as though her absence left us with no reason to stay. There was no news of Diệu Nương, nor was her singing heard again. Her hut was abandoned and fell into ruin. It was overgrown with weeds. Because her body was never found, some believed she had either escaped or died by drowning in the river; others thought she might have been blown apart by a bomb that was dropped directly on her head.

Then, one cloudless day in the dry season, we received news that Diệu Nương was still alive. She had hidden in the church throughout the previous rainy season to recuperate, but before she had fully recovered she escaped again. The priest came out to the artillery field early one morning, under cover of darkness, his cassock wet from the fog, and gave us the news.

“One of your men has taken advantage of her,” the priest announced. “The one who doesn’t talk with the scarred face. He has betrayed you all, and he’s made Diệu Nương betray God.” He added that he had informed Cù immediately after he found out about her

escape with Tuấn, which happened that same night. Cù, however, chose not to report anything to the company.

Later, as his superior reprimanded him, the bald-headed Cù just stood there and clenched his teeth. “I think we should let them go,” Cù said. “But if we want to arrest him, it’ll be easy since she’s injured and couldn’t have gone far. We can use Ních…”

I was given the honor of accompanying Cù and the two patrolmen assigned to bring the fugitives back. Ních barreled ahead and led with his nose while Cù held the leash. Armed with automatic rifles, we followed behind the dog. Our orders were to bring Tuấn and Diệu Nương back so that they would not reveal our upcoming troop movements, which were classified. Strangely, Ních did not lead us into town; rather, he led us along the banks of the A Rang River toward the grass-covered floodplains to the west, where we ended at a dense forest.

Dirt filled the crevices of our feet and discouraged us, but we forged ahead. Several hours passed and Ních, diligent as ever, still had their elusive scent. Finally, just as we were about to lose our enthusiasm and turn around, we saw signs of the fugitives. Under a lone kơ nia tree shaded by cogon grass, we spotted a colony of ants carrying away rice grains. We saw a cigarette butt nearby. On the flattened grass we noted the unmistakable impression of someone who had been sleeping there.

We were still tailing them as the sun went down and made it to the western side of the grassy floodplains near the mouth of the forest. Feeling exhausted, we stopped by a large creek and sat down to rest. Here, the water erased all clues of where the pair had gone next. The sun was now setting, the afternoon the color of fire, and the silence around us seemed to subsume everything. Then, amid the stillness of the air and the burbling creek, we heard the sound of a strumming guitar carrying through the air like a gentle ripple.

“It’s Tuấn’s guitar,” Cù said softly.

At first we were taken aback, then, listening more closely, we dismissed the sound. We thought it was a trick, but, after regaining our nerves, we heard a gentle voice singing. So we waded across the creek and reached the far shore. A pine forest loomed in front of us, the tall pine trees crowding each other. Wisps of smoke curled up into the air. I stood up and surveyed the scene from a tree trunk. A small campfire with a tin can hanging over it. A hammock strung between a pair of trees. We tried to stay hidden, but a withered branch snapped under our feet and the voice stopped singing. Everything remained at a standstill before I pulled the trigger of my AK rifle and launched a barrage of bullets.

“Comrades,” Tuấn said. “We’re not here to cause any trouble. Please let us go.”

“Shut the hell up!” Bảo, a patrol officer, shouted. “Now raise your hands above your head and come over here.”

A moment passed, then several more, but still no response. Cù unleashed Ních and the dog ran forward, barking eagerly toward the underbrush. Just then a bush began to tremble.

We are brothers at war…” a voice crooned.

“This is ridiculous!” someone yelled back. “I’ll show you brothers at war, sinful woman!”

A sound popped through the air, then others followed. Flashes from our automatic rifles illuminated the black forest. When our bullets finally ran out, everything fell silent. All four of us inched forward and were struck speechless. Behind the foliage hacked down by bullets were the figures of a man and a woman embracing each other, as though the gunfire had joined their bodies that way. Before he closed his eyes and died, it seemed that Tuấn had used his body to shield Diệu Nương from getting shot. Our bullets had gone through both their bodies. Shadows from the campfire fluttered across their naked backs.

We stood there paralyzed. The night grew even more ominous. A terrible weight crushed us, and we felt the responsibility of our actions. The unforgettable smell of gunpowder was all that was left of our madness.

“Hey, Ních, come here,” Cù called to the dog. Ních, scared away by the gunfire, had disappeared into the woods.

Crouching over Tuấn and Diệu Nương, I separated their bodies from each other.

Two days later, we received new orders to march south. We would never set eyes on Diêm Village again. I regained some measure of equanimity, as did Cù. Whatever future battles lay ahead for us would liberate our tortured souls. We would fight and we would forget. The dry season would burn across the wildlands and turn them the color of honey. Other tempests would come and go, blowing violently the columns of red earth upward; the storms, like angry talons, savagely clawing the ground. This was our last dry season of the war, but we didn’t know that then. We had shot to death the messengers of peace, even if peace did finally come.